Đang bận đến tối tăm mặt mũi thì được chú Tam Uyển bắn cho quả link: Bình Ngô đại cáo không phải của Nguyễn Trãi. Nghe tin giật đùng đùng, hãi quá em vội vàng đọc ngay tắp lự. Đọc xong em có lời tâm sự thế này: Cho dù nền học thuật nước nhà bây giờ đang đi theo hướng xâu bít (showbiz) hóa (thuật ngữ chuyên môn gọi là xâu bít lô gi (showbizlogy), thì cũng mong Lưỡng quốc Tiến sĩ đừng giống mấy Idol hết thời, lâu lâu không xuất hiện trên báo, cứ xuất hiện là phải kèm tin giật gân (mà nội dung thì cực kỳ ấu trĩ). Em bị bịnh đau dạ dày, mấy thứ phát hiện khoa học kiểu này em nuốt không trôi, em mắc.....
10h10 phút tối ngày 25/9: Ah, rồi, lại chiêu cũ: xóa bài. Thiệt tình. Bây giờ đố ai tìm được cái bài đó trên trang Giaoduc.net.vn. Báo Đất Việt cũng không còn luôn. Đúng là xâu bít lô gi, cái gì cũng thành trò hề được.
Tuesday, September 25, 2012
Wednesday, September 12, 2012
Nhân trường hợp entry của Blogger Le Minh Khai
Cách đây không lâu tôi có đọc essay
“The Biography of the HồngBàng Clan as a Medieval Vietnamese Invented
Tradition” (Journal of Vietnamese Studies, Vol. 7, No. 2 (Summer 2012), pp.
87-130 ) của nhà sử học người Mỹ Liam C. Kelley. Khi đọc câu đầu tiên của bài
viết: “Về một triều đại cách đây khoảng một nghìn năm mà không gian của nó
chính là phía Bắc và một một phần của miền Trung Việt Nam ngày nay, nơi đã từng thuộc phạm vi biên giới của
đế chế Trung Hoa…”, tôi đã cảm khái thốt lên với một người bạn: Liam C.
Kelley quả là một người Mỹ. Bởi vì điều này nếu được diễn đạt trực tiếp theo
cách đó từ một người Việt Nam, và được đăng đâu đó trên báo chí Việt Nam, đen đủi
hơn nếu bài viết được post lại trên các hot blog ở Việt Nam, vào thời điểm hiện
tại tác giả đó rất có nguy cơ phải đối diện với một sự tuyên án khốc liệt: kẻ
Hán gian, tay sai của Bắc Kinh...
Những comment dưới bài dịch tiếng Việt một entry của blogger Le Minh Khai có liên quan đến Lý Công Uẩn tại đây có thể xem là một ví dụ rất điển hình. Blog Le Minh Khai đã bị “xếp” vào hàng ngũ “những websites giả dạng của ngưòi Việt, nhưng chỉ có thể là của Bắc Kinh” với mục đích: “Trung Quốc dùng bất cứ phương tiện và thủ thuật để thuyết phục cả người Tầu lẫn người Việt hiện nay là ViệtNam
vốn là Tầu”. Lý do của họ: Blogger Le Minh Khai đã động chạm đến một vấn đề vô cùng nhạy
cảm đối với người Việt khi viết: “And on the issue of these films being too
“Chinese,” again, the elite in the Red River Delta at the time of Lý Công Uẩn
shared a great deal with the elite in areas to their north, particularly
culture and religion, but even blood. Making a movie that depicts a land that
was completely unique would be just as problematic as making it “too Chinese.”.
Với họ: việc
thừa nhận Việt Nam
đã từng chia sẻ văn hóa và tôn giáo với Trung Quốc trong quá khứ đã là một chuyện
khó chấp nhận huống chi lại là chuyện vấn đề huyết thống. Đó là tối kỵ. Vì thế
người ta nghi ngờ căn cước của Le Minh Khai? Tại sao Blogger này lại không công
khai tên thật, học hàm, học vị (nếu có), thậm chí là địa chỉ cơ quan nhà riêng
số điện thoại, ảnh chân dung của mình trên blog giống như "phép lịch sự tối
thiểu" của những người viết blog khác (có ví dụ được nêu danh kèm theo:))) ở
Việt Nam? Vì thế theo họ rõ ràng là rất có “vấn đề”???
Nhân trường hợp này, cùng với rất nhiều trường hợp xung đột quan điểm khác xảy ra trước đây trong thế giới blog ở Việt Nam, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Trung Quốc và Việt Nam, tôi nhận thấy nhiều người luôn luôn có xu hướng kết tội những người có quan điểm trái ngược với mình thay vì tranh luận với họ bằng lý lẽ và chứng cứ. Có lẽ đó là “căn cước văn hóa” của người ViệtNam chúng ta chăng?
Theo tôi, entry này của Blogger Le Minh Khai là một bài viết khá muộn mằn về một câu chuyện đã cũ. Có lẽ Blogger Le Minh Khai không được biết, ở thời điểm nóng hừng hực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Đông Đô Hà Nội, những bộ phim có liên quan đến cụ Lý Công Uẩn (hoặc liên quan đến Thăng Long…) đều đã bị đem ra mổ xẻ tan nát dưới đủ mọi loại ý kiến ý cò, từ những lời phẫn nộ kêu gào gầm thét đến những bài phân tích bình luận sắc bén lạnh lùng như dao giải phẫu, thậm chí có bác Blogger nổi tiếng còn nhân cơ hội soạn hẳn một “xê ri” các entry về lịch sử áo mão xứ Việt ta để thanh minh cho các trang phục được sử dụng trong phim. Đại khái, nói chung, tóm lại: những gì Blogger Le Minh Khai chỉ ra, các đồng chí Blogger đầy lương tri, lương năng và lương thức xứ Việt ta cũng đều từng đề cập. Theo như tôi hiểu, thì ý chính mà Le Minh Khai muốn nhấn mạnh trong entry này là: Vấn đề phim trường ở đâu không quan trọng, quan trọng là bộ phim đó phải chuyển tải được hồn cốt hình dáng phong tục tập quán nếp sống sinh hoạt (bao gồm quần áo mũ mão, đầu tóc, giày dép) của chính giai đoạn lịch sử mà bộ phim đề cập. Về phương diện này thì theo Le Minh Khai, bộ phim Lý Công Uẩn—Đường tới thành Thăng Long hoàn toàn thất bại. Le Minh Khai có gợi ý một tư liệu : những ghi chép về An Nam của Trần Phu. Le Minh Khai cho rằng: những ghi chép có niên đại cuối thế kỷ XIII này cũng có có thể ứng dụng được vào đầu thời Lý. Và, với một chút châm biếm (hài hước?) quen thuộc thường thấy, Le Minh Khai gợi ý thêm là đáng lẽ các bộ phim nên có thêm một vài chi tiết lãng mạn đầy chất cinema (nhưng hợp lý) để tăng phần hấp dẫn cho bộ phim…vân vân và vân vân.
Tôi chưa thể tranh luận gì về các quan điểm của Blogger Le Minh Khai trong bài viết, tôi chỉ không nhất trí với "vụ" Trần Phu. Nếu có một tư liệu nào đó tham khảo cho đời sống sinh hoạt thời Lý Công Uẩn thì có lẽ tôi sẽ chọn những phần ghi chép về Giao Chỉ trong Lĩnh ngoại đại đáp 岭外代答 của Chu Khứ Phi周去非thời Nam Tống thay vì những ghi chép của Trần Phu thời Nguyên.
Những comment dưới bài dịch tiếng Việt một entry của blogger Le Minh Khai có liên quan đến Lý Công Uẩn tại đây có thể xem là một ví dụ rất điển hình. Blog Le Minh Khai đã bị “xếp” vào hàng ngũ “những websites giả dạng của ngưòi Việt, nhưng chỉ có thể là của Bắc Kinh” với mục đích: “Trung Quốc dùng bất cứ phương tiện và thủ thuật để thuyết phục cả người Tầu lẫn người Việt hiện nay là Việt
Nhân trường hợp này, cùng với rất nhiều trường hợp xung đột quan điểm khác xảy ra trước đây trong thế giới blog ở Việt Nam, đặc biệt là những vấn đề liên quan đến Trung Quốc và Việt Nam, tôi nhận thấy nhiều người luôn luôn có xu hướng kết tội những người có quan điểm trái ngược với mình thay vì tranh luận với họ bằng lý lẽ và chứng cứ. Có lẽ đó là “căn cước văn hóa” của người Việt
Theo tôi, entry này của Blogger Le Minh Khai là một bài viết khá muộn mằn về một câu chuyện đã cũ. Có lẽ Blogger Le Minh Khai không được biết, ở thời điểm nóng hừng hực kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Đông Đô Hà Nội, những bộ phim có liên quan đến cụ Lý Công Uẩn (hoặc liên quan đến Thăng Long…) đều đã bị đem ra mổ xẻ tan nát dưới đủ mọi loại ý kiến ý cò, từ những lời phẫn nộ kêu gào gầm thét đến những bài phân tích bình luận sắc bén lạnh lùng như dao giải phẫu, thậm chí có bác Blogger nổi tiếng còn nhân cơ hội soạn hẳn một “xê ri” các entry về lịch sử áo mão xứ Việt ta để thanh minh cho các trang phục được sử dụng trong phim. Đại khái, nói chung, tóm lại: những gì Blogger Le Minh Khai chỉ ra, các đồng chí Blogger đầy lương tri, lương năng và lương thức xứ Việt ta cũng đều từng đề cập. Theo như tôi hiểu, thì ý chính mà Le Minh Khai muốn nhấn mạnh trong entry này là: Vấn đề phim trường ở đâu không quan trọng, quan trọng là bộ phim đó phải chuyển tải được hồn cốt hình dáng phong tục tập quán nếp sống sinh hoạt (bao gồm quần áo mũ mão, đầu tóc, giày dép) của chính giai đoạn lịch sử mà bộ phim đề cập. Về phương diện này thì theo Le Minh Khai, bộ phim Lý Công Uẩn—Đường tới thành Thăng Long hoàn toàn thất bại. Le Minh Khai có gợi ý một tư liệu : những ghi chép về An Nam của Trần Phu. Le Minh Khai cho rằng: những ghi chép có niên đại cuối thế kỷ XIII này cũng có có thể ứng dụng được vào đầu thời Lý. Và, với một chút châm biếm (hài hước?) quen thuộc thường thấy, Le Minh Khai gợi ý thêm là đáng lẽ các bộ phim nên có thêm một vài chi tiết lãng mạn đầy chất cinema (nhưng hợp lý) để tăng phần hấp dẫn cho bộ phim…vân vân và vân vân.
Tôi chưa thể tranh luận gì về các quan điểm của Blogger Le Minh Khai trong bài viết, tôi chỉ không nhất trí với "vụ" Trần Phu. Nếu có một tư liệu nào đó tham khảo cho đời sống sinh hoạt thời Lý Công Uẩn thì có lẽ tôi sẽ chọn những phần ghi chép về Giao Chỉ trong Lĩnh ngoại đại đáp 岭外代答 của Chu Khứ Phi周去非thời Nam Tống thay vì những ghi chép của Trần Phu thời Nguyên.
Wednesday, July 4, 2012
Trong mơ thần phách khó tìm nhau
Xa nhau chẳng biết về đâu nhỉ
Gặp lại thôi đành hẹn kiếp sau
Trời bể mịt mù nghìn dặm thẳm
Trong mơ thần phách khó tìm nhau...
Đọc tin nhà văn Nguyễn Mộng Giác qua đời, tôi, rất tự nhiên, lại nhớ tới những câu thơ trên trong bài Ức gia huynh của Nguyễn Du. Là bởi vì tôi nghĩ đến một người khác, một người mà tôi kính trọng, tự hỏi: giờ này ông thế nào, ông có khỏe không khi người bạn thân thiết, người anh thân thiết của ông đã ra đi?
Thursday, June 21, 2012
Phát hiện của ai?
Vì comment của một bác nhắc nhở phía dưới (cảm ơn bác “nặc
danh” lần nữa), nên mới nhớ ra cần ghi lại một nỗi băn khoăn. Trong cuốn Nhìn lại sử Việt (từ tiền sử đến tự chủ), Lê Mạnh Hùng có nhắc đến công trình nghiên
cứu của Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc (năm 1971) chứng minh “lạc” trong thư tịch
Trung Quốc viết về nước ta là một phiên âm “rạc” (rặc) mà theo tiếng cổ và tiếng Mường
có nghĩa là “nước”. Bài viết của PGS Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc đã in trong cuốn
Hùng Vương dựng nước, (tập 4. NXBKHXH,
1974). Quan điểm này nhiều lần đã được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ thế hệ sau trích dẫn
lại như trường hợp ông Tạ Đức với bài này; hoặc phát huy mở rộng quan điểm như trường hợp ông Vũ Thế Ngọc ở trong bài này chẳng hạn.
Tuy nhiên, tình cờ đọc bài này, tôi thật băn khoăn quá đỗi, ông
Kiều Thu Hoạch viết: “Bài viết của chúng
tôi đã ghi cả bốn chữ mà ta đều đọc là lạc: 鵅B 駱, 雒, 貉 (với các bộ thủ: điểu, mã,
chuy, trãi). Theo tra cứu của chúng
tôi, thì bốn chữ này đều là ghi âm Hán của từ Việt cổ (rác, đrác, đác)
còn thấy trong tiếng Mường, chỉ nước.”
Rốt cục “lạc” với nghĩa là "nước" theo tiếng Mường là phát hiện của
ai? Của ông Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc (từ năm 1971) (đã được nhiều người công nhận) hay là “theo sự tra cứu của chúng tôi” của ông Kiều Thu Hoạch? “Theo tra cứu của chúng tôi” là một cụm từ
rất mơ hồ. Nếu ai chưa từng đọc Nguyễn Kim Thản và Vương Lộc, hoặc chưa đọc bất cứ một bài viết nào liên quan, chỉ đọc bài viết
trên của ông Kiều Thu Hoạch sẽ lầm tưởng rằng ông Kiều Thu Hoạch là người đầu
tiên phát hiện ra điều đó.
Nhân tiện trong bài viết trên, ông Kiều Thu Hoạch còn có một
nhầm lẫn nhỏ. Ông viết “Lạc bộ mã 駱 là ngựa trắng bờm đen. Lạc bộ chuy 雒 là ngựa đen bờm trắng. Hai
chữ này đều là chữ Kinh Thi (thiên Lỗ tụng), đều không hề có nghĩa chỉ loài
chim, như cụ Đào [Đào Duy Anh] giải thích”. Trường hợp駱 này thì tôi không bình luận, nhưng với trường hợp雒 này, ông Kiều Thu Hoạch nhầm.
雒 đúng
là có thể dùng thông với 駱 với nghĩa ngựa đen bờm trắng như ông Kiều Thu Hoạch đã nói.
Nhưng 雒 theo Thuyết văn giải tự thì có nghĩa là tên một loài chim: “雒,鵋鶀也。怪鸱” , 鵋鶀 là
một loại chim thuộc cú mèo (quái si), còn gọi là miêu đầu ưng (Tham khảo thêm các trích dẫn khác về 雒 với nghĩa là một loại chim trong bài viết của ông Vũ Thế Ngọc đã dẫn link ở trên). Tuy nhiên, điều tôi rất rất rất rất thắc mắc
là cụ Đào Duy Anh đã dựa trên cơ sở nào để giải thích 雒 vốn là một loại hậu điểu 候鳥 (một loài chim có đặc tính
di cư giống như chim nhạn, chim én) ở Giang Nam? 鸱 và 候鳥là
khác nhau. Vì thế quan điểm của cụ Đào Duy Anh: “Lạc chính là tên vật tổ, tức loài chim hậu điểu mà chúng ta thấy hình
dung trên trống đồng Ngọc Lũ” rõ ràng là thiếu thuyết phục.
Lạc= Rác/dak/nác=nước?
...................................................................................
Cùng một xâu:
1. Đối Vương hay Hùng Vương
2. Đối Vương hay Hùng Vương (tiếp theo)
...................................................................................
Cùng một xâu:
1. Đối Vương hay Hùng Vương
2. Đối Vương hay Hùng Vương (tiếp theo)
Monday, June 11, 2012
Trở lại
Ngoại trừ thị xã của những cây dâu da (giờ đã được phong là "thành phố") nơi có ngôi nhà hai tầng và cây bằng lăng mùa này tím biếc hoa; ngoại trừ Hà Nội chen chúc nháo nhào, bụi khói mịt mù, mùa này nóng đến ngạt thở và thi thoảng bị mất điện (một vài tiếng) đột ngột không cần báo trước; thì bây giờ với tôi, còn thêm một thành phố khác mà mỗi lần rời đi tôi lại nhớ đến nao lòng....
Wednesday, May 23, 2012
Lửa thiêng
Khổ đẹp, giấy đẹp, trình bày đẹp, số trang dầy dặn cũng rất đẹp (hơn 400 trang) chất lượng thì... vô cùng yên tâm :). Nội dung của tạp chí đây:
Tôi chỉ lăn tăn mỗi một điều, ấy là, hồi trước năm 1975 cũng có một tạp chí tên là Lửa Thiêng, sự tồn tại của nó rất ngắn ngủi, hình như chỉ ra được 2 số là dừng luôn. Lửa Thiêng hiện tại, chả biết có phải vì trùng tên hay không mà chưa chi đã thấy....hồng nhan lận đận. Mới ra được số 1 nhưng số tiếp theo thế nào thi còn phải...chờ mới biết được.
Thursday, April 19, 2012
Lòng hào hiệp (2)
Dự báo thời tiết: Hà Nội hôm nay nóng trên 30 độ C, trời
từ sáng đã oi bức âm u, nhưng không có mưa. Vậy mà đã có một hiện tượng lạ xảy
ra: nước ngập lênh láng trên một con phố gần khu phố cổ của Hà Nội. Nghe thiên
hạ đồn rằng: đó là do sự cố rò rỉ của những giọt nước mắt quá vui mừng.
Chuyện lạ đó đây: một phụ nữ “có tuổi” đã “khiêu vũ quay
tròn” với một thùng sách trong những tiếng la hét đầy kích động trước sự chứng
kiến đầy bao dung của nhiều nhân chứng. Rất may không có một clip nào được quay
lại. :)
Bạn hãy ngắm nhìn những cuốn sách này xem, chúng thật đẹp đẽ
xiết bao, nhưng giá như bạn biết được, chúng có một thông điệp đe dọa ngấm ngầm: “Liệu
hồn đấy nhá, hãy học lại căn bản từ đầu cho tử tế!”.
| "Liệu hồn! Hãy học lại căn bản từ đầu cho tử tế!" |
........
Cảm ơn rất nhiều, những tấm lòng hào hiệp!
Thursday, April 12, 2012
Đối Vương hay Hùng Vương (tiếp theo)
Tôi đã có thể xác định chắc chắn rằng bản Việt sử lược ký hiệu VHv.1521 không
phải là bản mà ông Trần Quốc Vượng dùng để dịch sang tiếng Việt. Ký
hiệu VHv.1521 được in kèm thêm vào bản in Việt sử lược năm 2005 chỉ là một giải pháp tình thế (đây
là một câu chuyện liên quan đến văn bản học sử liệu mà tôi sẽ nói sau).
Tuy nhiên, suy luận của tôi về việc ông Trần Quốc Vượng dịch Việt sử lược trên một bản chép tay vẫn đứng vững khi có người (đáng tin cậy) khẳng định điều đó. Nhưng lúng túng ở chỗ người cung cấp thông tin cũng không rõ bản đó là bản nào? Le Minh Khai ở đây đã chỉ ra một chi tiết quan trọng: Trong VHv.1521 không nhắc gì đến 守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư), trong khi tại bản dịch của Trần Quốc Vượng lại nêu rõ chi tiết đó. Nếu thực sự ông Trần Quốc Vượng đã dịch Việt sử lược dựa trên một bản chép tay thì bản đó nhất định phải có đầy đủ các yếu tố đã nêu trong phần dịch.
Hiện nay trong Kho sách của Viện Hán Nôm có 2 bản Việt sử lược 越史略. 1 bản có ký hiệu VHv.1521 như tôi đã nói ở bài trước. 1 bản khác có kí hiệu VHv.1331. Trong Thư mục đề yếu có thuyết minh rõ: Đây là bản do Hoàng Xuân Hãn chép bằng bút mực xanh trên giấy tây kẻ sẵn theo hàng dọc. Cuốn này trong Thư viện Hoàng Xuân Hãn có kí hiệu là A.74.
| Việt sử lược ký hiệu VHv.1331 |
| Mục "Quốc sơ duyên cách" bản VHv.1331 |
Khi chúng tôi khảo sát văn bản VHv.1331, lúc đầu thật khó phát hiện ra dòng chữ 守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư), vì nó bị đóng chẹt vào gáy sách (nếu không nhìn kỹ sẽ hoàn toàn không biết đến dòng chữ này).
| 守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư) |
| 守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư) |
Và không ngoài dự đoán của chúng tôi, cũng giống như VHv.1521, toàn bộ những chỗ chép là “Đối” 碓 trong nguyên bản Tứ khố, đều tự động chuyển thành “Hùng” (hữu右một bên, bộ chuy隹một bên) trong bản chép tay VHv.1331.
| Bản Việt sử lược trong Tứ khố |
| Bản Việt sử lược bản VHv.1331 |
Chính vì sự phát hiện ra dòng chữ守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư) ở một vị trí khó
khăn như thế (nằm kẹp trong gáy sách) nên chúng tôi nghi ngờ bản VHv.1521
cũng trong trường hợp tương tự. Bản VHv.1521 mà Thư viện Hán Nôm cung
cấp cho độc giả là bản copy. Tôi có chút băn khoăn giả dụ nếu ở bản
gốc của ký hiệu VHv.1521守山閣叢書
(Thủ sơn các tùng thư) cũng được chép ở một vị trí sát gáy sách
thì khi photo sách có thể dòng chữ đó sẽ bị bỏ sót. Tuy nhiên khi
tôi ngỏ lời muốn xin được phục vụ bản gốc thì Thư viện họ yêu cầu
phải có sự đồng ý của cấp lãnh đạo Viện. Vì các thủ tục cần có
một thời gian nhất định nên tạm thời với trường hợp VHv.1521 tôi chưa
thể xác minh rõ có hay không có dòng chữ守山閣叢書
(Thủ sơn các tùng thư).
Tôi không khẳng định chắc chắn rằng ông Trần Quốc
Vượng có thể đã dịch Việt sử lược
từ bản chép tay của Hoàng Xuân Hãn. Bởi vì sẽ còn nhiều các
vấn đề rắc rối khác của yếu tố văn bản học mà hiện giờ tôi chưa
thể khảo sát. Nhưng lần này, vấn đề thực sự mà tôi quan tâm lại không
nằm ở chuyện ông Trần Quốc Vượng đã dịch từ bản nào. Việc xác minh
lại các thông tin của bản VHv.1331 càng khiến tôi băn khoăn: tại sao trong
các bản chép tay của Việt sử lược
ở Việt Nam, “Đối vương” lại “tự động” được chép thành “Hùng vương” như
một sự mặc nhiên? Trong khi những bản Việt
sử lược in thành sách ở Trung Quốc chữ Đối
vẫn được giữ nguyên? Có phải vì tự dạng của hai chữ “hùng”
và “đối” quá giống nhau nên khi người sao chép ở Việt Nam đã có sự
nhầm lẫn? Hay người sao chép nghiễm nhiên cho rằng “Đối” là sai, “Hùng”
mới đúng. Với những người tiến hành sao chép Việt sử lược (những trí thức Nho học) ở Việt Nam dường như được
kế thừa một thứ “tiềm thức Hùng Vương”, thứ tiềm thức này đã tồn tại từ
các thế hệ trí thức Nho học trước nữa, trước nữa và trước nữa nữa, khiến cho các
khả năng có một vị tổ tiên dân tộc khác không phải tên là Hùng Vương đều
bị loại bỏ, nghĩa là vị tổ tiên của dân tộc nhất định phải là “Hùng”? Thậm chí ngay cả Hoàng Xuân Hãn cũng mang "tiềm thức" này nếu quả thực ông chính là người chép văn bản VHv.1331. 'Hùng" bắt đầu được tiếp nhận vào Việt Nam từ bao giờ và qua hệ thống sử liệu nào? Vậy tại sao trí thức phong kiến nhất quyết chọn “Hùng” mà
không phải “Lạc” (trong khi "Lạc" đáng nhẽ phải là "ứng cử viên" số một vì
tư liệu ghi chép về nó có niên đại sớm hơn)? Nó phản ánh ý thức hệ gì và cho thấy gì về hệ thống sử liệu Nho gia Việt Nam?
Một ghi chú nhỏ: “Đối”: chày giã gạo
……………………….
Bàn về Lạc Vương và Hùng Vương trên Tri Tân (hay là sự trỗi dậy của ứng cử viên "Lạc Vương" cho ghế "quốc tổ" :)) :))):
1. Nguyễn Văn Tố, Lạc
Vương chứ không phải Hùng Vương, Tri Tân, số 9, Tháng 8, năm 1941.
2. Nguyễn Văn Tố, Lạc
Vương với Hùng Vương, Tri Tân số 96, 1943
3. Nguyễn Văn Tố, Lại
chữ Lạc với chữ Hùng, Tri Tân số 101, 1943
4. Ngô Đức Kinh, Góp
ý kiến vào câu chuyện Lạc Vương với Hùng Vương, Tri Tân số 105, 1943
Liên kết:
Blog Le Minh Khai: The Evils of Quốc Ngữ #4 continued yet again
Liên kết:
Blog Le Minh Khai: The Evils of Quốc Ngữ #4 continued yet again
Saturday, April 7, 2012
ĐỐI VƯƠNG HAY HÙNG VƯƠNG?
Khi đọc những phản biện của Blogger Le Minh Khai ở đây
và ở đây về trường hợp chữ “đối” (碓:
chữ này Le Minh Khai đọc là “đôi”, chúng tôi đọc là “đối”) trong văn bản Hán
văn Đại Việt sử lược đã "bị" Trần Quốc Vượng và Nguyễn Gia Tường dịch
thành “hùng” 雄 trong bản tiếng
Việt mà không có sự giải thích, tôi đã tiến hành kiểm tra lại các thông tin. Tôi cho rằng đã có uẩn khúc trong trường
hợp này. Có lẽ vào thời điểm khi dịch Đại Việt sử
lược, cả Trần Quốc Vượng lẫn Nguyễn Gia Tường đều không có điều kiện
tiếp xúc với chính văn Đại Việt sử lược
khắc in trong Tứ khố toàn thư (là bản gốc) mà họ chỉ dịch dựa trên bản một bản sao chép được lưu trữ tại Việt Nam. Trong trường hợp Trần Quốc Vượng, đó có thể là bản Việt sử lược ký hiệu Vhv.1521. Bản Hán văn này được in kèm trong cuốn Việt sử lược (Trần Quốc Vượng
dịch, Đinh KhắcThuân đối chiếu chỉnh lý, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ
Đông Tây xuất bản năm 2005. Bản in năm 2005 này người đối chiếu chỉnh lý cũng hoàn toàn dựa trên bản Vhv.1521 nên cũng không có chú thích gì cho trường hợp Hùng Vương).
| Việt sử lược trong Tứ khố toàn thư |
| Việt sử lược ký hiệu VHv.1521 (bản sao chép?) |
Qua ảnh chụp, có thể suy đoán, Việt sử lược ký hiệu Vhv.1521 là một bản sao chép lại từ nguyên bản của
Tứ khố. Tuy nhiên, giữa hai bản có một sự sai khác rất nghiêm trọng: toàn bộ những chữ “đối” 碓" (trong chữ "Đối Vương". mục Quốc sơ duyên cách) của bản trong Tứ khố, đã được sửa lại thành
“hùng” trong bản ký hiệu Vhv. 1521 (chữ “hùng” có một bên là chữ hữu右và một bên là bộ chuy隹).(xem ảnh)
Như vậy, có thể hiểu, vô hình chung, người sao chép Hán văn (chứ không phải người dịch sang tiếng Việt) đã mặc nhiên cho rằng “đối” 碓 chính là sự chép sai từ “hùng” (một bên là chữ右 và một bên là bộ chuy隹) . Theo tôi, trong trường hợp này, ông Trần Quốc Vượng và Nguyễn Gia Tường đã không có điều kiện đối chiếu với bản gốc (và cũng có thể là vào thời điểm đó họ chưa tiếp xúc cả với những công trình hiệu đính của Trần Kinh Hòa) nên họ mặc nhiên dịch thành "hùng" (theo đúng tự dạng chép trong VHv.1521), họ không biết được có sự tồn tại của chữ “đối” 碓 trong văn bản, dẫn tới cả hai đều không có chú giải cho trường hợp này.
| "Đối" trong Việt sử lược Tứ khố toàn thư |
| Thành "hùng" trong Việt sử lược ký hiệu VHv.1521 |
Như vậy, có thể hiểu, vô hình chung, người sao chép Hán văn (chứ không phải người dịch sang tiếng Việt) đã mặc nhiên cho rằng “đối” 碓 chính là sự chép sai từ “hùng” (một bên là chữ右 và một bên là bộ chuy隹) . Theo tôi, trong trường hợp này, ông Trần Quốc Vượng và Nguyễn Gia Tường đã không có điều kiện đối chiếu với bản gốc (và cũng có thể là vào thời điểm đó họ chưa tiếp xúc cả với những công trình hiệu đính của Trần Kinh Hòa) nên họ mặc nhiên dịch thành "hùng" (theo đúng tự dạng chép trong VHv.1521), họ không biết được có sự tồn tại của chữ “đối” 碓 trong văn bản, dẫn tới cả hai đều không có chú giải cho trường hợp này.
| Chữ "đối" |
| Chữ "hùng" |
Quay lại chuyện “đối” 碓
và “hùng” (chữ “hùng” như trên ảnh), có thể thấy sự khác biệt của hai chữ
này là vô cùng nhỏ, đặc biệt rất dễ nhầm lẫn. Đặt giả thiết “đối” 碓 là một chữ bị Tứ khố toàn thư khắc nhầm, tôi
cho rằng trường hợp “hùng” (một bên là chữ右 và một bên là bộ chuy隹) bị nhầm sang “đối” 碓 là trường hợp có khả năng hơn là nhầm từ “lạc”
雒sang “đối” 碓. Nhận định đó của tôi thuần túy dựa trên mặt
tự dạng. Còn những chuyện phức tạp hơn về cuộc tranh luận Lạc Vương và
Hùng Vương chúng tôi sẽ trở lại trong một bài khác.
...........................
Gạch đầu dòng:
1.
...........................
Gạch đầu dòng:
1.
| Mục Hồng Bàng thị (Họ Hồng Bàng) trên Wikipedia Trung văn |
Đây là mục viết về họ Hồng Bàng trên Wikipedia Trung văn , những người viết đã đặt Đôi Vương như là một trong những hiệu của vua thời Hồng Bàng. "Quân chủ xưng hiệu là "Hùng Vương". "Lạc Vương" hoặc "Đôi Vương", từng sử dụng quốc hiệu như "Xích Quỷ quốc", "Văn Lang quốc"....vvvv. Wikipedia không phải là một tài liệu tham khảo mang tính học thuật, nhưng là nơi cung cấp thông tin dạng phổ biến, vì thế trong trường hợp này cũng cần có sự lưu ý.
2. - Một cách thức diễn giải lười biếng khác: Thời Hồng Bàng, các vị vua nối nhau lên ngôi, lần lượt xưng hiệu là: Lạc Vương, Hùng Vương (hoặc Đôi Vương)...vvv. Như thế có nghĩa là có cả Lạc lẫn Hùng, đỡ phải tranh cãi Lạc hay Hùng mới là chính xác....
Liên kết:
Blog Le Minh Khai: The Evils of Quốc Ngữ #4 continued again
Liên kết:
Blog Le Minh Khai: The Evils of Quốc Ngữ #4 continued again
Subscribe to:
Posts (Atom)