Thursday, November 5, 2009

"LỤC ĐỘ TẬP KINH" CÓ PHẢI DỊCH TỪ MỘT BẢN TIẾNG VIỆT ?

Loạt bài Thiền sư Lê Mạnh Thát và những phát hiện lịch sử chấn động của nhà báo Hoàng Hải Vân đăng trên báo Thanh Niên đã để lại rất nhiều dư chấn trong xã hội. TS Lê Mạnh Thát vốn là một nhà nghiên cứu Phật học nổi tiếng chính vì thế những “tuyên bố” của ông được đăng trên một tờ báo có lượng đọc thuộc hàng “top” của Việt Nam sẽ ảnh hưởng lớn đến nhận thức của đông đảo độc giả như thế nào chắc chúng ta không cần phải bàn cãi. Điều đáng lo ngại là, trong những “phát hiện lịch sử chấn động” của ông có nhiều điểm còn bất cập, chưa có chứng cứ rõ ràng, thậm chí có nhiều suy luận sai về mặt phương pháp luận, dễ dẫn đến ngộ nhận hoặc hiểu sai lệch về lịch sử nước nhà. Vì thế từ một góc độ kiến thức nhỏ hẹp, chúng tôi xin phép được trao đổi cùng ông về cuốn Lục độ tập kinh, một bản kinh Phật mà theo ông trong đó có những ghi chép về khởi nguồn lịch sử dân tộc Việt Nam...
Trong cuốn Lục độ tập kinh và lịch sử khởi nguyên của dân tộc ta (NXB Tổng hợp TPHCM, 2005), TS Lê Mạnh Thát có hai khẳng định quan trọng:
1. Thứ nhất, truyền thuyết về khởi nguồn dân tộc Việt, truyền thuyết “trăm trứng” “không thể ra đời chậm hơn thượng bản thế kỷ thứ III với tư liệu xưa nhất hiện biết là Lục độ tập kinh do Khương Tăng Hội dịch từ một nguyên bản tiếng Việt khoảng giữa những năm 221-252” ̣(Phần in nghiêng trích nguyên văn Sđd tr. 243)
2. Trong Lục độ tập kinh (LĐTK) có chứa các từ mang cấu trúc trung + X (trong đó X có thể là một danh từ hay đại từ. Theo thống kê của TS Lê Mạnh Thát thì trong LĐTK có sự xuất hiện một lượng lớn các từ “trung tâm”) , “là một cấu trúc cơ bản của tiếng Việt từ thời Trần Nhân Tông cho đến ngày hôm nay” (Phần in nghiêng trích nguyên văn Sđd tr. 246)
Chính từ hai khẳng định này mà ông Lê Mạnh Thát đã đưa ra chuỗi suy luận về khởi nguồn dân tộc Việt. Tuy nhiên chúng tôi cho rằng đây là hai kết luận vội vàng và thiếu chứng cớ thuyết phục.
1. Về truyền thuyết “trăm trứng”, truyền thuyết khởi nguyên của dân tộc Việt.
Trong Lục độ tập kinh quyển 3 truyện thứ 23 có một đoạn như sau:
“Mang thai đủ ngày, sinh ra một trăm cái trứng, hoàng hậu cung phi cho đến tì thiếp không ai là không ghét. Bèn chặt cây chuối khắc hình tượng quỉ, đợi khi sinh, lấy tóc phủ lên mặt, bôi nước bùn dơ lên cây chuối rồi đem trình vua. Bọn yêu che sáng, vua lầm tin theo.
Lũ tà lấy hũ đựng trứng, bịt kín miệng lại, quăng xuống giòng sông. Trời Đế Thích xuống lấy ấn đóng miệng lại, chư thiên theo giữ, xuôi dòng dừng lại như trụ cắm đất. Vua nước hạ lưu đang ở trên đài, xa thấy giữa dòng có hũ trôi xuống, ánh sáng rực rỡ, như có oai trời. Bèn vớt lên xem, thấy dấu ấn Đế Thích, mở có trăm trứng, ra lệnh trăm người đàn bà ấp nuôi ấm nóng. Đủ ngày thành hình, nở ra trăm người con trai, sinh ra đã có trí thượng thánh, không dạy mà vẫn tự biết, nhan sắc hơn đời, tướng tốt hiếm có, tài cán thế lực hơn người trăm lần, tiếng nói vang như sư tử rống.”
Đây là đoạn mà Thiền sư Lê Mạnh cho rằng nó chứa đựng truyền thuyết khởi nguồn của dân tộc Việt Nam…
Trong chuỗi suy luận đã được trình bày trong cuốn sách, cần phải lưu ý đến việc ông đồng nhất truyền thuyết về “nhục đoàn” (bọc thịt) trong Đại Bharata vào với truyền thuyết “bách noãn” (trăm trứng) của dân tộc Việt.
1. Thứ nhất, truyền thuyết “trăm trứng” rõ ràng là một truyền thuyết có lịch sử và con đường phát triển riêng, không có điểm chung với truyền thuyết “bọc thịt”. Thực ra truyền thuyết về việc sự sống sinh ra từ quả trứng không phải là một truyền thuyết chỉ có ở riêng Việt Nam. Đây là một truyền thuyết có cả ở người Celts, người Hy Lạp, người Ai Cập, người Phénecien, người Cananéen, người Tây Tạng, người Ấn Độ, người Việt Nam, người Trung Quốc, người Nhật Bản, các dân tộc ở Xibia và Inđônexia và rất nhiều dân tộc khác nữa….(Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới)…
Trong truyền thuyết trăm trứng của người Việt, chúng ta không thể không xét đến sự kết hợp giữa Lạc Long Quân và Âu Cơ, một sự kết hợp được xem như là một “cuộc hôn nhân thần thánh” (chữ dùng của Frazer trong Cành vàng), là sự kết hợp giữa rồng (rắn) và chim…Cũng theo Frazer thường thì sự kết hợp này phản ánh một tập tục có thật là sự hiến tế trinh nữ cho các thủy thần (thường xuyên được nhận biết dưới hình hài những con rắn lớn hoặc những con rồng) ở các cư dân ven biển…
Truyền thuyết “trăm trứng” rõ ràng mang tính bản địa rất cao. Chúng ta có thể tìm thấy dấu tích của nó trong truyện cổ của người Mường về việc con người sinh ra từ trứng Diếng hay con người sinh ra từ trứng trong Đẻ đất đẻ nước. Người Mường không tiếp xúc với hệ thống kinh Phật, như thế không thể nói truyền thuyết của họ về con người sinh ra từ trứng có nguồn gốc từ trong kinh Phật. Truyền thuyết “trăm trứng” theo chúng tôi là một truyền thuyết có sự phát triển nội tại mang đậm bản sắc văn hóa bản địa của cư dân vùng Đông Nam Á….
2. Thứ hai, theo sự phân loại “mô típ sinh đẻ thần kỳ” của V.IA. Propp thì câu chuyện sinh một trăm người con trong Đại Bharata và trong Lục độ tập kinh, thuộc về môtíp “sinh đẻ do cầu nguyện”. Trong Đại Bharata thì nàng Gan dha ri ước nguyện nàng sẽ có từ nàng một trăm người con giống chồng nàng. Trong Lục độ tập kinh là do ước nguyện của một người đàn bà góa. Cũng theo V.IA. Propp thì “trong trường hợp này thần linh đã tác động lên người phụ nữ trần tục”. …Trong khi đó “bách noãn” lại thuộc về một mô típ khác không có trong số những môtíp được V.IA Propp liệt kê. (Xem Tuyển tập V.IA Propp , tập 2, tr. 655-722) .
3. Xét về lớp nghĩa của truyện chúng ta thấy rằng: trong Đại Bharata Lục độ tập kinh, “bọc thịt” hay “trăm trứng chỉ là biểu tượng phản ánh sự tái sinh, sự “thoát khỏi chu trình hóa kiếp bất tận”, một giai đoạn chuyển giao từ kiếp này sang kiếp khác. Trong khi đó “truyền thuyết trăm trứngở Việt Nam là một truyền thuyết phức tạp với nhiều tầng lớp nghĩa trong đó phải tính đến “sự phân tách 50/50”, biểu hiện nguyên thủy của nó chính là sự phân tách của trời và đất, của âm và dương, là sự phân tách giữa Núi Non và Biển Cả trong tâm thức người Việt…vân vân….
Như vậy rõ ràng việc đồng nhất truyền thuyết trăm trứng của dân tộc Việt với lại chi tiết sinh 100 người con từ “bọc thịt” trong Đại Bharata là khiên cưỡng và khó có thể chấp nhận.
2. Về cấu trúc “trung + X” trong Lục độ tập kinh
Theo chúng tôi, đó là dấu vết của ngôn ngữ Hán Tạng nói chung chứ không phải là ngôn ngữ người Việt nói riêng. Hán ngữ và Việt Nam ngữ đều thuộc ngữ hệ Hán Tạng. Theo bảng ngữ hệ Hán Tạng của Vương Lực trong Hán ngữ sử cảo thì Hán ngữ và Việt Nam ngữ cùng nằm trong Hán Đài ngữ quần. Như vậy Hán Ngữ và Việt nam ngữ cùng chia sẻ những đặc điểm chung về ngữ âm, ngữ pháp và từ vựng với các ngôn ngữ khác cùng hệ....
Theo Thạc sĩ Hán Nôm Nguyễn Tuấn Cường thì “nhiều nghiên cứu của giới Hán ngữ học (Mantaro Hashimoto 1980, Trần Kì Quang 1990, Cao Hoa Niên 1992, Cù Yết Đường & Kính Tùng 2000, Đinh Bang Tân 2000, Lưu Trung Hoa 2003, Trịnh Hưng Phương & Trương Kì 2005, Cliff Goddard 2005…) cho biết, trong tiếng Hán thời viễn cổ (trước thời nhà Thương), cấu trúc chính phụ thể từ tính (mà tiếng Hán hiện đại gọi là cấu trúc định ngữ - trung tâm ngữ) từng có trật tự là trung – định, từ thời Thương Chu trở đi thì dần dần biến thành định – trung.
Hơn nữa, nhiều ngôn ngữ họ hàng với tiếng Hán tộc cũng có mô thức cấu trúc trung – định, như nhiều ngôn ngữ thuộc các ngữ tộc Tạng-Miến, Miêu-Dao, Đồng-Thái. Dựa trên những quan hệ cội nguồn của tiếng Hán với những thuộc các ngữ trên, có thể thấy hiện tượng cấu trúc trung – định còn rơi rớt trong tiếng Hán cổ đại là sản phẩm di duệ của thời kì tiếp xúc với các ngữ tộc trên, chứ không phải ảnh hưởng từ tiếng Việt.
Ngoài ra, nhiều phương ngôn của tiếng Hán hiện nay cũng vẫn còn bảo tồn mô thức cấu trúc trung – định, như trong các phương ngôn Việt, Mân chẳng hạn”.
Về ngữ pháp, trừ Hán ngữ, trong các ngôn ngữ khác của ngữ hệ Hán Tạng, hình dung từ (tính từ) thông thường vẫn được đặt đằng sau và tu sức cho danh từ . Ví dụ như “nhất tứ bạch mã” trong Tạng ngữ, phiên theo trục từ thành “mã bạch nhất”, “công ngưu” trong Cáp ni ngữ, phiên theo trục từ thành “ngưu công”, ...”nam nhân” và “nữ nhân” trong Wuming ngữ , phiên theo trục từ thành “nhân nam”, “nhân nữ”, “bạch mã” trong Bảo Đình Lê ngữ, phiên theo trục từ thành “mã bạch”, và “nam hài” và “nữ hài” trong Việt Nam ngữ, phiên theo trục từ là “tử nam” và “tử nữ”... (Theo Vương Lực, Hán ngữ sử cảo (Trung Hoa thư cục¸ chương 5, tr.31):
Theo TS Phạm Văn Khoái trong Một số vấn đề chữ Hán thế kỉ XX thì “các văn bản kinh điển tử tập tiên Tần như Thi, Thư, Luận ngữ, Mạnh Tử…trong những chừng mực nhất định đều phản ánh ngôn ngữ nói đương thời. Các nhà ngữ văn Trung Quốc xưa nay đã chỉ ra mối liên hệ với ngôn ngữ của các văn bản cổ này. Văn bản Trung dung được viết theo phương ngữ Tề, tập thơ Ly Tao được viết theo phương ngữ Sở (Nhan Chi Thôi, 1922, La Thường Bồi, Chu Tổ Mô 1990, tr.234). Các tác giả của Luận ngữ , Mạnh Tử sinh ra ở nước Lỗ, Trâu, tự nhiên chúng cũng phản ánh phương ngữ Lỗ, Trâu”….Đặc biệt là Kinh Thi, đây là một tập hợp các bài ca trong dân gian nên không tránh khỏi có ảnh hưởng phương ngữ của rất nhiều vùng. Trong những thống kê về những hiện tượng “trung tâm”, “trung lâm”, “trung lộ”…mà TS Lê Mạnh Thát thống kê thì nó nằm chủ yếu ở phần Phong chứ không phải là bộ phận Nhã, Tụng… “Thi sưu tập quốc phong của 15 nước Chu, Thiệu. Bội, Dung,Vệ, Vương, Trịnh, Tề, Ngụy, Đường, Tấn, Tào, Cối, Mân…”…Những phương ngữ này chắc chắn sẽ mang rất nhiều dấu vết của ngôn ngữ Hán Tạng…..
Như vậy, kết cấu trung + X theo như TS Lê Mạnh Thát phản ánh thực chất là di duệ của tiếng Hán thời viễn cổ chứ không phải cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt.
3. Khương Tăng Hội dịch Lục độ tập kinh từ tiếng Phạn hay Tiếng Việt?
Nếu như giả thiết Lục độ tập kinh được dịch từ một kinh Phật tiếng Việt là một giả thiết chân thực thì có ba câu hỏi đặt ra
- Thứ nhất, nếu có bản dịch Tiếng Việt của Lục độ thập kinh thì có nghĩa là trước đó, Phật học ở nước ta đã rất phát triển. Thiền sư Lê Mạnh Thát cho rằng Phật giáo đã có ở nước ta từ thời Hùng Vương chứ không phải thế kỉ II CN. Chứng tích là truyện Nhất dạ trạch với chi tiết sư Phật Quang truyền Phật Pháp và phép thuật cho Chử Đồng Tử. Theo phân tích của Lê Anh Minh trong bài Khởi nguyên của Phật giáo Việt Nam (in trong cuốn Triết giáo Đông Phương) thì chi tiết Phật giáo xuất hiện từ thời Vua Hùng thứ 3 chỉ là hư cấu…Lê Anh Minh cho rằng những chuyện phù phép trong truyện mang tính chất Đạo giáo nhiều hơn là Phật giáo. “Ngoài ra Lĩnh nam chích quái không phải là chính sử, các nhân vật Chử Đồng Tử và Tiên Dung cũng có thể là hư cấu để minh họa một hôn nhân không phân biệt sang hèn (vốn là một chủ đề phổ biến trong các truyện cổ tích Việt Nam” (Trích nguyên văn, sách đã dẫn, tr.491). Dù “đã được Phật Quang truyền Phật pháp” nhưng Chử Đồng Tử không để lại dấu ấn nào trong lịch sử Phật giáo Việt Nam. Ngược lại, cũng theo Lê Anh Minh thì trong tín ngưỡng của người Việt. Chử Đồng Tử được thờ là một trong Tứ Bất Tử , còn trong Đạo giáo thì được thờ là Chử Đạo tổ….
Lê Anh Minh cho rằng khó có khả năng Phật giáo xuất hiện ở Giao Chỉ trước thế kỉ I CN. Bởi vì Phật giáo Ân Độ ra đời vào thế kỉ VI hoặc V TCN. Bắt đầu từ thế kỉ I CN, Phật giáo mới từ Ấn Độ nhanh chóng truyền sang các nước phía đông. Tôi đồng ý với quan điểm này.
- Thứ hai: nếu có bản dịch Tiếng Việt thì bản đó hiện nay có còn được lưu giữ hay còn tàn khuyết ở trong văn bản nào không?
- Thứ ba: Nếu như có bản Tiếng Việt như thế có nghĩa là ở thời điểm đó chúng ta đã có chữ viết và một hệ thống Tiếng Việt hoàn chỉnh có thể chuyển tải được cả một bộ kinh Phật khá lớn. Cấu trúc trung + X nêu trên không phải là cấu trúc ngữ pháp tiếng Việt, vế còn lại là “vậy hệ thống chữ viết ấy biến đâu mất”? Một điểm đáng lưu ý là cho đến nay các kết quả khảo cổ học ở Việt Nam vẫn chưa tìm thấy dấu vết chữ Việt cổ để có thể làm chứng cớ vững chắc cho giả thiết về chữ Việt thời Hùng Vương của TS Lê Mạnh Thát
Kết hợp với những quan điểm về ngôn ngữ và về truyền thuyết trăm trưng mà chúng tôi đã trình bày ở trên, theo thiển ý của chúng tôi thì Khương Tăng Hội không thể dịch Lục độ tập kinh từ một bản tiếng Việt, ông chỉ có thể dịch cuốn kinh này từ một bản kinh Sankaris….
Quách Hiền

15 comments:

  1. Có cả trong "truyện cổ của người Mường" nữa à? ;P

    ReplyDelete
  2. Xin hỏi Đại Bharata có phải là trường ca Mahabharata không vậy ạ ?

    ReplyDelete
  3. @Khuê Việt: Có chứ lị...:)). Có đọc truyện cổ người Mường không, bạn tặng cả bộ luôn.

    @Cao nhân ẩn danh: Dạ. Có lẽ vì Mahabharata nếu dịch ra thì sẽ là: Bharata vĩ đại :(

    ReplyDelete
  4. Bài này đăng ở đâu rồi Quách sư tỷ?

    ReplyDelete
  5. @thaothucsg: Dạ, đã đăng ở một tờ báo "địa phương" ạ!

    ReplyDelete
  6. Uh thì thôi, không nói chuyện ông Thát nữa. Chị Quách tiện thể cho thêm vài kiến giải về tổ tiên chúng ta????

    ReplyDelete
  7. Đúng là khó tin... Thanks for your entry!!!

    ReplyDelete
  8. @Lịch sử học: Dạ, cháu cũng mong sẽ được các cao nhân chỉ giáo nhiều thêm ạ.

    ReplyDelete
  9. This comment has been removed by the author.

    ReplyDelete
  10. Bạn Quách Hiền cho xin bộ Truyện cổ người Mường được không ạ. Có bản mềm thì tốt ạ. Xin cảm ơn bạn rất nhiều.

    ReplyDelete
    Replies
    1. Bộ mà tôi nói đến có tên là "Truyện cổ Mường Hà Sơn Bình", sách này in lâu rồi khoảng năm 1987. Tôi không có bản mềm, nhưng sẽ thử tìm hộ bạn xem có bản scan của cuốn này hay không.

      Delete
  11. 1. Tất nhiên đã có chữ viét từ thời Hùng Vương. Sớm muộn gì cũng sẽ tìm ra thôi!
    2. Chữ viết mà còn bị mất thì nói gì đến một văn bản cụ thể! Cả đống tác phẩm của giai đoạn muộn sau này còn bị mất nữa kia. Không lẽ vấn đề hậu quả của âm mưu đồng hoá còn phải nhắc lại nữa sao hởi bạn Quach Hien?!

    ReplyDelete
  12. "Hán ngữ và Việt Nam ngữ đều thuộc ngữ hệ Hán Tạng" <~~ Bác có nhầm không? tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á mà http://en.wikipedia.org/wiki/Vietnamese_language

    ReplyDelete
  13. Quách Hiền thân mến!Bạn viết bài này rất hay, nhưng dân tộc chúng ta thuộc hệ Bách Việt cổ đa phần đã bị đồng hóa hoặc diệt vong. Bạn nên biết rằng các Tộc Bách Việt bị đầy từ miền Bắc Xuống Nam ( đều này nằm trong lịch sử trung hoa 5000 năm có nói) và ngôn ngữ các Tộc Bách Việt vốn là một tộc nên việc giao tiếp sẽ có chỗ tương đồng. Mặc dù vậy, ngữ pháp nói trên là cách nói của dân tộc Việt không phải cách biến thể của Hán ngữ.

    ReplyDelete
  14. Theo ông Đỗ Văn Xuyền (Phú Thọ) người Việt cổ đã có chữ viết. Bộ chữ người Việt cổ không có dấu, có cấu tạo gần giống với hệ chữ Latin, ghi hết được tiếng nói của người Việt cổ. Nhược điểm của nó là nguyên âm luôn thay đổi vị trí song thay đổi có quy luật. Do đó, người học có thể biết cách sử dụng bộ chữ này để đọc, viết sau khoảng thời gian 7-10 ngày. Có cả một hệ thống giáo dục sử dụng bộ chữ cổ từ thời vua Hùng thứ sáu đến thời Hai Bà Trưng. Dấu tích của bộ chữ còn được thấy qua nhiều công trình khảo cổ, tài liệu nghiên cứu, từng nhắc đến chữ khoa đẩu của người Việt… Ông Đỗ Văn Xuyền kỳ vọng: “Rất nên phục hồi chữ khoa đẩu. Bởi, đi sâu vào vấn đề này có thể mở thêm nhiều cánh cửa quá khứ”.
    http://thanhnien.vn/van-hoa/phat-hien-chu-viet-co-440123.html

    ReplyDelete