Sunday, December 2, 2012

Hôm trước “chó không nhà", hôm nay “chó giữ nhà”- Thấu thị “cơn sốt Khổng Tử” ở Trung Quốc hiện nay

Bài dịch riên(in đậm gạch chân)  kính tặng hai hiệp sĩ Trường Túc và Túy Sầu-bạn em :)

Đôi lời muốn nói: 

- Tôi đọc bản dịch khác có trước đầu tiên, ở đây, qua sự chỉ dẫn từ một người bạn. Tất nhiên, không phải vô tình mà bạn lại gửi link cho tôi đọc. Bản dịch này hình như là dịch từ bản tiếng Anh nên tôi hỏi bạn có cần tôi dịch lại một bản từ nguyên văn tiếng Trung. Vì  thế bản dịch này ra đời như một món quà riêng cho hai người bạn tôi và cũng như một tài liệu tham khảo cho riêng tôi.
- Ở các bản dịch khác, như ở đây chẳng hạn mọi người luôn dịch chữ "đạo thống" của Nho gia thành "đạo đức truyền thống". Điều này khiến tôi  thất vọng. Đương nhiên, tôi không chỉ thất vọng với mỗi chi tiết đó. Nếu không tôi đã không mất công dịch lại. 
丧家狗:Tang gia cẩu (chó nhà đám) hay Táng gia cẩu (chó mất nhà)? Tôi cho là "táng gia cẩu" nghĩa là chó mất nhà, chó không có nhà thì đúng hơn. Bởi vì đây cũng là ý mà Lý Linh muốn dùng để minh họa về hình ảnh người trí thức cổ đại giống như một con chó lang thang lưu lạc không có nơi thuộc về mình. 
- Dịch bài này không có nghĩa là tôi tán đồng quan điểm của Lưu Hiểu Ba. Tôi cố gắng trung thành nhất với những gì Lưu Hiểu Ba chuyển tải. Và mặc dù đây là một bài viết mang tính công kích nhưng tôi vẫn cố gắng giữ thái độ "tâm bình khí hòa"-thái độ đọc Luận ngữ của Lý Linh mà Lưu Hiểu Ba rất tán thưởng-để duy trì trạng thái trung lập khi dịch. Kỳ thực, đó là điều rất khó. Trong quá trình dịch, tôi không ít lần nổi khí xung thiên muốn chỉ trời vạch đất mà tranh biện với Lưu tiên sinh. :)
- Tôi đã đọc cả Luận ngữ tâm đắc của Vu Đan lẫn Táng gia cẩu-Tôi đọc Luận ngữ của Lý Linh. Nếu có thời gian, tôi sẽ dịch đầy đủ Lời nói đầu trong cuốn sách của Lý Linh cho hai đồng chí bạn đọc chơi luôn . 
- Cuối cùng, người Trung Quốc đã từng có tiền lệ Lã Bất Vi buôn vua, người hiện đại có buôn Thánh cũng chả có gì bất thường. Nhưng rốt cục, lợi hại nhất vẫn là đám buôn nước bọt và buôn bàn phím.


Bản gốc Trung văn của tác giả Lưu Hiểu Ba ở đây


Người Trung Quốc đang sình sịch chuyện đại quốc quật khởi, từ kinh tế quật khởi tới văn hóa quật khởi, từ rải tiền khắp thế giới đến xuất khẩu quyền lực mềm. Trong nước, sau “cơn sốt giảng đọc kinh điển”, “cơn sốt tế Khổng”, “cơn sốt Nho giáo”, chương trình Bách gia giảng đàn của đài truyền hình Trung Ương lại dấy lên “cơn sốt giảng đọc Khổng Tử” nhằm kiến tạo lại “đạo thống”[i] của Trung Quốc. Ở hải ngoại, Trung cộng đầu tư hạng mục lớn xây dựng các “Viện Khổng Tử” với mục đích xuất khẩu quyền lực mềm. Đó là một dạng phát tiết tâm thái “thiên hạ vi gia” vốn bị đè nén trăm năm nay, nối liền đức Thánh Khổng trong nước thành một dải với đức Thánh Khổng ở nước ngoài, khiến diễn biến của cơn sốt Khổng Tử ngày càng trở nên kịch liệt.

Đằng sau trào lưu nóng bỏng đó, tôi nhận thấy không phải là sự phục hưng của văn hóa cổ điển, mà là sự sống lại của truyền thống “sùng Thánh”, là một bộ phận của chủ nghĩa dân tộc cực đoan theo đường hướng quan phương. Bởi vì, sau sự kiện “lục tứ”[ii], đám quan quyền một mặt phụng sự thừa hành chống tự do hóa, chống diễn biến hòa bình; một mặt chủ trương và phát động chủ nghĩa ái quốc; chủ nghĩa ái quốc đã trở thành một trong những nhánh chủ lưu trong hình thái ý thức của chính quyền Trung cộng hiện nay, cùng phối hợp với lời kêu gọi “tiểu khang thịnh thế”[iii] của giới quan phương là sự lan tràn của chủ nghĩa dân tộc. Ví dụ như câu viết trong đoạn kết bài văn tế tại buổi đại điển tế Khổng dịp quốc tế văn hóa về Khổng Tử năm 2005 tại Khúc Phụ Trung Quốc: “Tiểu Khang kíp thành, Đại Đồng còn mộng, chào mừng thịnh thế, cường quốc uy phong”, chính là văn bản điển hình của tấu khúc song trùng giữa “chủ nghĩa dân tộc” và “phúc âm thịnh thế”.   

Suốt một năm lại đây, chương trình “Bách gia giảng đàn” của đài truyền hình Trung Ương Trung Quốc đã hoằng dương văn hóa truyền thống, đã dấy lên “cơn sốt Vu Đan” khuynh đảo toàn quốc. Một mặt báo chí và truyền thông đã thành công trong việc thương mại hóa, thời thượng hóa Khổng Tử (dùng cách nói của Lỗ Tấn thì là “modern Khổng Tử”), giống như đã từng thời thượng hóa, thương mại hóa Mao Trạch Đông những năm trước đây. Tất cả các loại thư tịch có liên quan đến Khổng Tử đã trở thành loại sách bán chạy đem lại nhiều lợi nhuận cho nền thương nghiệp sách; các lớp quốc học và các lớp giảng đọc kinh điển cũng nằm trong hạng mục thu lợi nhuận cao (thí dụ, học phí cho “lớp quốc học” tại Đại học Thanh Hoa là 26000 NDT mỗi người, tại Đại học Phúc Đán là 38000 NDT mỗi người, tại lớp giảng đọc kinh điển cho thiếu nhi thì học phí còn ở mức trên trời hơn nữa). Mặt khác, ngôn ngữ mà Vu Đan giảng về Khổng Tử là thứ ngôn ngữ chào hàng hỗn hợp giữa những lời đao to búa lớn của cổ nhân lẫn với những ca từ đang thịnh hành. Sự giải đọc tùy tiện và nông cạn của bà về Khổng Tử là liều ma túy tinh thần bơm đầy tính thông tục hóa cho “cơn sốt phục hưng Nho giáo”. Tinh hoa của Khổng Tử theo cách giải thích của Vu Đan trong Luận ngữ tâm đắc là: ai ai cũng có thể sống được một cách thoải mái dễ chịu với tâm thức khuyển Nho- cho dù gặp phải chuyện gì, chỉ cần không kêu ca phàn nàn, chỉ cần nhẫn nại chịu đựng nghịch cảnh, cứ thuận ứng hoàn cảnh thì sẽ được an ổn, hạnh phúc.   

Chính trong lúc cơn sốt giảng độc Khổng Tử đang tiếp tục tăng nhiệt thì cuốn sách Táng gia cẩu: Tôi đọc “Luận ngữ” được xuất bản, tác giả Lý Linh, giáo sư trường Đại học Bắc Kinh, đã dựa trên những khảo cứu công phu tiến hành nghi thức “trừ tà” trả lại một đức Thánh Khổng nguyên bản. Trong Lời tựa, ông đã nói về thái độ của mình khi đọc Luận ngữ:

Sách của tôi được viết từ nhãn quang của riêng tôi, không phải là sản phẩm ăn theo nói leo người khác. Tôi không quan tâm đến cái gì mà Nhị thánh nhân với Tam thánh nhân, tôi cũng không quan tâm cái gì mà “đại sư” với “tiểu sư”[iv], chỉ cần không đúng với sách gốc, xin lỗi, đại khái tôi sẽ không tiếp nhận. Tôi đọc Luận ngữ là đọc nguyên bản. Tư tưởng của Khổng Tử như thế nào xin hãy đọc nguyên bản. Tất cả các kết luận của tôi là dùng chính lời của Khổng Tử để nói, không phải để gây lộn với trí thức, cũng không đưa lại sự a dua cho quần chúng nhân dân. Đọc sách của Khổng Tử không nên tán tụng, cũng không nên quăng bỏ, nói một cách thích đáng, ông ấy chính là Don Quixote”.

Chính vì xuất phát từ thái độ cầu thực không sùng Thánh, không mị quần chúng như thế nên Lý Linh mới có thể phá vỡ được truyền thống sùng Thánh tôn Khổng kéo dài hơn 2000 năm. Ông nói:

“Trong cuốn sách này, tôi muốn nói với mọi người, Khổng Tử không phải là Thánh nhân. Khổng Tử được đế vương các đời tán dương phong hiệu không phải là Khổng Tử đích thực, chỉ là “Khổng Tử nhân tạo”. Khổng Tử đích thực, Khổng Tử sống động, không phải Thánh cũng chẳng phải Vương, căn bản chẳng liên quan gì đến cái gọi là “Nội Thánh ngoại Vương”. Khổng Tử không phải Thánh, chỉ là con người: là một người xuất thân thấp kém lại lấy quý tộc cổ đại (những “chân quân tử”) làm tiêu chuẩn lập thân; một người hiếu cổ cần mẫn, học không biết chán, dạy người không biết mệt mỏi; một người truyền đạt cổ văn hóa, giảng dạy kinh điển; một người có đạo đức học vấn nhưng vô quyền vô thế lại dám phê bình tầng lớp quyền quý đương thời; một người du thuyết bốn phương, lao tâm hộ đám cầm quyền, liều mình khuyên họ cải tà quy chính; một người nhiệt tâm hiếu nghĩa, nuôi mộng tưởng khôi phục lại trật tự xã hội thời Chu Công, định an bách tính thiên hạ. Ông ấy vừa hoảng hốt, vừa hoang mang, khô môi rã họng, thất thểu lang thang, chẳng khác nào một con chó lưu lạc không có nhà để quay về. Đó mới là chân tướng của Khổng Tử”.

Trình độ giải đọc Luận ngữ của Lý Linh, bất kể là ở góc độ khảo chứng hay thích nghĩa, vượt xa cách đọc tùy tiện nông cạn của Vu Đan. Quan trọng hơn nữa, Lý Linh với tư cách là một phần tử trí thức đương đại đã lý giải một cách ôn hòa với khá nhiều đồng cảm về Khổng Tử- một phần tử trí thức hơn 2000 năm trước. Ông nói: “Khổng Tử thừa nhận mình là “táng gia cẩu”, bởi vì: “Khổng Tử tuyệt vọng với tổ quốc mình, thán nỗi phải dắt díu tha hương viễn xứ, nhưng đi khắp lượt chư hầu, không thu hoạch được một chút gì, cuối cùng lại quay trở về nơi chôn rau cắt rốn. Những năm cuối đời của ông, đau thương liên miên. Con mất, điềm lân bị bắt, Nhan Hồi mất, Trọng Do tử trận, khiến cho ông khóc khô nước mắt. Ông chết trong nhà mình, nhưng ông lại không có nhà. Cho dù suy nghĩ của ông đúng hay sai, nhưng từ bản thân ông, tôi nhận ra số phận của người trí thức”.

Luận thuyết “táng gia cẩu” (chó mất nhà, chó không nhà) của Lý Linh giống như ném một hòn đá tảng vào giữa “cơn sốt Khổng Tử” và “cơn sốt Quốc học”, châm ngòi kích động đám sĩ nhân hộ đạo Nho gia, nước bọt bủa vây phun ra lai láng, thậm chí không thiếu cả những lời chửi rủa tức tối; có kẻ mắng nhiếc ông là “phẫn thanh”; có kẻ  phán định ông là “Mạt thế luận” (Eschatology); có kẻ thậm chí còn chưa đọc qua sách của Lý Linh đã bài xích là “rác rưởi”. Sở dĩ như thế chỉ bởi vì Lý Linh đã đặt tên cuốn sách “đọc Luận ngữ” là “táng gia cẩu” (chó không nhà). Từ đó có thể thấy, tình trạng sùng bái Khổng Tử của các vị Tân Nho gia Trung Quốc đã đạt tới mức độ không được phép đụng tới “đức Thánh Khổng”. May mà mấy vị Nho gia đương đại kia trong tay không có nhiều quyền lực chính trị. Nếu mà có, đại khái đã phải quay trở lại thời đại “Câu câu là chân lý, một câu hơn đứt vạn câu”[v].

Lý Linh là một nhà sử học nghiêm túc, ông đọc Luận ngữ không phải đọc sách Thánh hiền mà là để nghiên cứu lịch sử. Khổng Tử mà ông khảo chứng được, không phải thánh nhân, mà là một phần tử trí thức không tìm được nơi thuộc về mình. Giống như ông đã nói: “Tôi dùng Luận ngữ để nghiên cứu lịch sử chứ không phải xem nó như một thứ công cụ  để sùng bái” . Kỳ thực, thuyết “táng gia cẩu” (chó mất nhà) của Lý Linh, chẳng qua trả lại nguyên vẹn trạng thái hoang mang không tìm được đất dụng võ của trí thức thời Xuân Thu. Lý Linh giải thích “táng gia cẩu” (chó mất nhà) thành “lưu lãng cẩu” (chó lưu lạc, chó lang thang) , bất cứ ai ôm hoài bão lý tưởng nhưng trong thế giới thực lại không tìm được “nơi ký thác tinh thần” đều là “táng gia cẩu”. Mà theo tôi thấy dùng cụm “đánh mất nơi ký thác tinh thần” để bình luận đánh giá là đã quá coi trọng Khổng Tử. Trên thực tế Khổng Tử chu du liệt quốc, không phải để tìm “nơi ký thác tinh thần” mà là để tìm kiếm nơi ký thác quyền lực. Mong muốn duy nhất của ông là được làm thầy của các bậc đế vương đã không thành, đó chính là “táng gia cẩu” không tìm được quyền lực thuộc về mình. Giả dụ như lúc bấy giờ ông ta có thể tìm được một bậc đế vương trọng dụng mình thì ông ta sớm đã biến thành “chó giữ nhà” cho quyền lực.

Người phát minh ra thuật ngữ “táng gia cẩu” không phải là Lý Linh, mà là bình luận đánh giá của cổ nhân đối với Khổng Tử. Bản thân Khổng Tử cũng đồng ý với sự đánh giá này. Khổng Tử chu du liệt quốc “chạy quan”, thất thểu lang thang 14 năm không thu hoạch được mảy may gì, ông ta trong lúc thất vọng cùng cực đã bi phẫn cảm khái: “Đạo ta cùng rồi!” “Thiên hạ chẳng còn chỗ nào có thể dung ta nữa”, cho nên mới có lời bình luận đánh giá của người đời sau là “rầu rĩ như chó không nhà”. Nhưng từ góc nhìn của đám sĩ nhân hộ đạo, Khổng Tử tự xưng “táng gia cẩu” là di huấn của Thánh nhân, bao hàm ý nghĩa tinh tế sâu xa về việc trồng người và trị quốc; còn Lý Linh gọi Khổng Từ “táng gia cẩu” là đại nghịch bất đạo, là thứ “rác rưởi” không đáng để đọc. Thậm chí có vị “phẫn Nho” còn thét thẳng: “Lý Linh điên rồi!”!

Cho dù các vị Nho gia đương đại sùng Thánh tôn Khổng khinh bỉ “táng gia cẩu” của Lý Linh đến thế nào, nhưng với tôi, Khổng Tử mà Lý Linh giải đọc, đặc biệt là những gì viết trong Lời nói đầu chất phác mà đặc sắc, đã vượt qua mọi lời nói về Khổng Tử của mấy vị Tân Nho gia như Tưởng Khánh. Cho nên nhiều học giả nổi tiếng đánh giá rất cao về “Táng gia cẩu”.

Nhà sử học Ngô Tư trong bài Khả năng tính (Feasibility) của Nhân, Nghĩa-Điểm bình “Táng gia cẩu- tôi đọc Luận ngữ” viết: “Tôi cảm thấy Lý Linh đã làm một việc rất hay. Cho dù sau này chúng ta kiến thiết văn hóa như thế nào đều cần phải dựa vào văn bản chân thực đáng tin cậy. Văn bản này của Lý Linh tôi thấy lợi hại hơn cả Chu Hy”.

Tiên sinh Tiền Lý Quần giáo sư khoa Trung văn trường Bắc Đại viết trong bài Đối đãi như thế nào với truyền thống từ Khổng Tử đến Lỗ Tấn- Đọc“Táng gia cẩu-tôi đọc Luận ngữ”của Lý Linh: “Theo tôi, tâm thái và phương pháp nghiên cứu “dĩ tâm hiệt tâm” (lấy lòng mình đo lòng người-đạo hiệt củ của Nho gia-ND) và nhãn quãn “ngang tầm” như thế của Lý Linh là một đặc điểm lớn, đồng thời cũng là một cống hiến lớn trong cách đọc Luận ngữ của ông. Kết quả “dĩ tâm hiệt tâm” của Lý Linh là đã phát hiện được “táng gia cẩu” Khổng Tử….Tôi đọc thấy trong cụm từ này cảm giác như có một chút “chế nhạo” nhưng bên trong lại cũng có một thứ chấp trứ, một thứ bi thương”.

Tiên sinh Lưu Mộng Khê, giám đốc trung tâm nghiên cứu văn hóa Trung Quốc thuộc Viện nghiên cứu nghệ thuật Trung Quốc, trong một cuộc phỏng vấn, đã ca ngợi sự nghiêm túc, công phu khảo chứng học, cũng như tinh thần phê phán và “giải thiêng” thần thánh của Lý Linh trong cách đọc Luận ngữ.  

Giáo sư Tần Huy của đại học Thanh Hoa, trong bài báo “Luận ngữ” trở thành kinh điển như thế nào? in trên Phương Nam cuối tuần (số ra ngày 12-7-2007) đã viết: “Ngày nay, có nhiều người đã nâng cao Luận ngữ đến mức gần như là “Thánh Kinh Nho gia”, hệt như trước kia xem Mao Trạch Đông ngữ lục là “đỉnh cao” của chủ nghĩa Marx. “Cơn sốt Luận ngữ” ngày nay đối với Nho gia, và “cơn sốt ngữ lục” trước kia đối với chủ nghĩa Marx, rốt cục là hoằng dương hay là chà đạp?” .

Ở một đất nước có truyền thống sùng Thánh lâu đời như Trung Quốc, Khổng Tử trong mắt những sĩ nhân hộ đạo là một vị Thánh nhân không cần nghi ngờ, là bậc “tôn sư” của đế vương các triều đại, là đức “Tố Vương” có vị trí chí tôn trong đạo thống, là vị “Đại Thành Chí Thánh Văn Tuyên Vương” mà các hoàng đế dập đầu bái lạy, là vị “Thần” mà Khang Hữu Vi và Khổng giáo hội tôn là “Giáo Chủ”, ngày nay lại được các vị Tân Nho xem là “tiêu chí” của văn hóa Trung Quốc. Mỗi câu Khổng Tử nói đều được xem là châm ngôn trị quốc tỉnh thế, là hướng đạo của tu thân dưỡng tính. Trong các thuyết pháp khoa trương nhất, cổ thì có thuyết “nửa bộ Luận ngữ trị thiên hạ”, ngày nay thì có luận thuyết: “Khổng Tử thượng quản 5000 năm, hạ quản 5000 năm”, lại còn có cả  thuyết “Không đọc Luận ngữ, không lấy gì để làm người”. Nho gia đương đại không tiếc sức bịa đặt những tin tức giả giật gân, hơn nữa lại là tin tức giả danh những người phương Tây rất có tự trọng: Năm 1988, 75 người được giải Nobel các nước đã tụ hội tại Paris, cùng bầu chọn Khổng Tử là nhà tư tưởng số 1 thế giới. Đứng trước những người sùng bái Thánh đến tẩu hỏa nhập ma, thứ lỗi cho tôi khi nói một câu thô lậu như thế này với các vị Nho gia đương đại: Trong mắt của các ông, Khổng Tử nếu đã là Thánh vậy thì đến xì hơi cũng thơm tho, cũng ngây ngất. Những người sùng Thánh đã mê man đến độ không phân biệt nổi những lời nói sinh hoạt thường ngày với những lời “vi ngôn đại nghĩa”, đem những lời nói thường ngày trong Luận ngữ đọc thành những lời vi diệu sâu sắc. Ví dụ như thiên mở đầu trong sách Luận ngữ: Học nhi thời tập chi bất diệc duyệt hồ; hữu bằng tự viễn phương lai bất diệc lạc hồ…?”, những lời nói bình thường như thế có gì vi diệu sâu sắc, mắc mớ gì mà phải lãng phí bao nhiêu là trí tuệ chú thích hơn 2000 năm, đến nay vẫn còn đang chú thích? Giống như Chu Tác Nhân trong cuốn Luận ngữ tiểu ký đã viết: “Những gì được nói trong Luận ngữ phần lớn là đạo lý tác nhân xử thế, ….có thể  làm gương cho hậu nhân, nhưng không thể làm tín điều thiên kinh địa nghĩa, lại càng không có ý nghĩa tinh túy gì về triết học chính trị để có thể  trị quốc bình thiên hạ”. Hegel, nhà triết học lớn người Đức cũng cho rằng Luận ngữ chẳng qua chỉ là đạo lý mang tính sinh hoạt thường ngày mà thôi.

Nếu như nói, mệnh vận của Khổng Tử thời Xuân Thu Chiến Quốc giống như “chó không nhà” không tìm thấy được sự ưu đãi trọng thị từ tầng lớp quyền lực, vậy thì sau khi Hán Vũ Đế  khâm định “Độc tôn Nho thuật”, anh ba Khổng (Khổng lão nhị) biến thành đức phu tử Khổng, “chó không nhà” di thai hoán cốt thành “chó giữ nhà” bảo vệ cho chế độ độc tài hoàng quyền. Vì Nho thuật có lợi cho sự thống trị hoàng quyền, nên địa vị “chó giữ nhà” xem như tương đối vững chắc, ngồi một cái là ngồi luôn hơn 2000 năm. Nhưng khi thần tượng của trí thức được quan quyền tung hô lên đến tận mây xanh, thậm chí biến thành tượng dát vàng trong tổ miếu hoàng gia, thì vừa vặn cũng là lúc người trí thức và tư tưởng của họ sa vào địa ngục, biến thành “tỳ nữ” cho quyền lực. Giống như Tư Mã Thiên sau khi bị Hán Vũ Đế xử cung hình đã bi phẫn mà thốt lên rằng: “Phụ thân ta không có được công lao nhận “phẫu phù đan thư”[vii] (những tín vật miễn tội), chép sử xem thiên văn (những nhiệm vụ do Thái Sử Lệnh chuyên trách) gần với chiêm bốc tế lễ (những nhiệm vụ do Vu quan chuyên trách), cho nên chúa thượng bỡn cợt, nuôi như nuôi con hát, bị thế tục khinh thường”. Cho đến khi các cường quốc phương Tây gõ cửa Trung Quốc, chế độ và hình thái ý thức truyền thống mới suy yếu nhanh chóng. Cách mạng Tân Hợi đã làm lễ cáo chung cho đế chế truyền thống, Nho gia với tư cách là hình thái ý thức độc tôn của hoàng quyền cũng mất đi chỗ dựa vào chế độ, một lần nữa từ “chó giữ nhà” trở về thành “chó không nhà”. Cho dù, cũng từng có thêm vở kịch khôi phục đế chế và tôn Khổng của Viên Thế Khải, nhưng chẳng qua cũng chỉ là hài kịch như khói thoảng qua, bởi vì sự sụp đổ của chế độ và hình thái ý thức truyền thống đã đến hồi không thể nào cứu vãn.

Theo tôi, mất đi chỗ dựa quyền lực, là đại bất hạnh của Nho gia truyền thống, khiến chó giữ nhà cho hoàng quyền biến thành chó lưu lạc lang thang. Nhưng trong quá trình chuyển hình từ trí thức truyền thống sang trí thức hiện đại- trí thức Trung Quốc từ “chó giữ nhà” một lần nữa biến thành “chó không nhà”- lại là đại hạnh cho giới trí thức Trung Quốc. Bởi vì trí thức không còn dựa vào sự chống lưng của quyền lực độc tài nữa, thì dù bất kể là tự nguyện hay ép buộc, tinh thần phê phán càng dễ dàng được nuôi dưỡng độc lập hơn. Di hạn ở chỗ, số phận “chó lang thang” của trí thức Trung Quốc cũng chỉ duy trì vẻn vẹn được nửa thế kỷ, cùng với việc Trung cộng tập trung quyền lực thống trị khắp Trung Quốc thì trí thức Trung Quốc đến “chó lang thang” cũng không bằng. Phần lớn thì lâm vào thế như “chó rơi xuống nước” bị đuổi đánh dồn dập, một số ít may mắn biến thành “chó giữ nhà” cho chính quyền Mao Trạch Đông. Ví dụ như Quách Mạt Nhược thời kỳ dân quốc còn dám mắng cả Tưởng Giới Thạch nhưng sau 1949 lại biến thành kẻ phụ họa cho Mao Trạch Đông.

Ở thời hiện đại và đương đại Trung Quốc, Khổng Tử có một mệnh vận tương đối kỳ dị, trước sau trải qua hai cuộc vận động “đánh đổ miếu họ Khổng”; một lần là cuộc vận động Tân văn hóa thời Ngũ Tứ, một lần là cuộc “phê Lâm phê Khổng” do Mao Trach Đông phát động. Sau sự kiện Thiên An Môn, trong giới tri thức Trung Quốc xuất hiện trào lưu tư tưởng chống lại chủ nghĩa cấp tiến, xếp phản truyền thống của vận động Ngữ tứ với phản truyền thống của Mao Trạch Đông vào chung một nồi, cho rằng đồng dạng đều là cách mạng của chủ nghĩa cấp tiến nên tiến hành bài trừ, mà tuyệt nhiên không để ý tới sự khác nhau hoàn toàn của hai lần “đánh đổ miếu họ Khổng”.   

Đầu tiên, những người phát động của hai phong trào chống Khổng là không giống nhau. Cuộc vận động Ngũ Tứ là cuộc vận động văn hóa dân gian từ dưới lên trên, những người phát động đều là những phần tử trí thức kiểu mới đến từ tầng lớp bình dân, họ tiếp thu những tư tưởng mới, giá trị mới và phương pháp mới từ phương Tây, đồng thời dùng những giá trị của Phương Tây làm tham chiếu để nghiên cứu thảo luận nguyên nhân lạc hậu của Trung Quốc. Họ không thỏa mãn với quan điểm “khí vật không bằng người” của phái Dương vụ[viii] và “chế độ không bằng người” của phái Duy Tân mà đi sâu thảo luận vào tầng diện “văn hóa không bằng người”. Còn phong trào “phê Lâm phê Khổng” giai đoạn cách mạng văn hóa là cuộc vận động chính trị từ trên xuống dưới do quyền lực độc tài thao túng và khống chế, người phát động là Mao Trạch Đông không chỉ nắm giữ quyền lực tuyệt đối mà địa vị độc tôn của “tư tưởng Mao Trạch Đông” lúc đó cũng thay thế tất cả mọi tư tưởng khác bất kể là đến từ bên ngoài hay vốn có của Trung Quốc.

Thứ hai, tính chất của hai lần chống Khổng cũng hoàn toàn khác nhau. Cuộc cách mạng văn hóa phát động “đánh đổ miếu họ Khổng” của những trí thức kiểu mới thế hệ thứ nhất thời Ngũ Tứ, không chĩa mũi nhọn vào Khổng Tử thời “trăm nhà đua tiếng” Tiên Tần mà là đức Thánh Khổng được dựng lên từ thời đại “độc tôn Nho thuật” của Hán Vũ Đế trở lại đây, mục đích là đánh đổ thứ “Nho thuật” làm “chó giữ nhà” cho hoàng quyền độc tài. Còn cuộc vận động phê Khổng do Mao Trạch Đông phát động không có bất cứ một động cơ văn hóa hoặc động cơ trừ bỏ cái cũ mưu toan cái mới, mà hoàn toàn dựa trên nhu cầu chính trị bảo hộ quyền lực tự thân. Ông ta dùng “phê Khổng” như công cụ chính trị cho cuộc tranh giành quyền lực trong nội bộ Đảng, vừa để “phê xấu” Lâm Bưu, vừa để cảnh cáo “đại Nho trong Đảng” Chu Ân Lai.

Như thế có thể nói, hai lần đả phá miếu họ Khổng có sự khác biệt về tính chất: đó là sự khác biệt giữa những người trí thức kiểu mới không có quyền lực với Tần Thủy Hoàng đương đại trong tay nắm giữ quyền lực tuyệt đối; đó là sự khác biệt giữa một cuộc vận động văn hóa tự phát với một cuộc vận động chính trị thao túng khống chế quyền lực; đó là sự khác biệt giữa một bên vì Trung Quốc già nua mà tìm lối thoát cho văn hóa và một bên vì củng cố quyền lực tuyệt đối mà thanh trừng những ý kiến khác mình.

Vì thế, đến tận bây giờ tôi vẫn tán thành “đánh đổ miếu họ Khổng” như là một cuộc vận động văn hóa tự phát thời Ngũ  Tứ , nhưng tôi lại kiên quyết phản đối “đánh đổ miếu họ Khổng” với tư cách là một cuộc vận động chính trị giai đoạn đại cách mạng văn hóa.

Trong bài viết Khổng Phu Tử của Trung Quốc hiện đại, Lỗ Tấn gọi Khổng Tử là “Thánh nhân modern”, cũng chính là phê phán truyền thống sùng Thánh của đế chế Trung Quốc. Ông viết: “Khổng Tử tại Trung Quốc, là do đám quyền thế dựng lên, là Thánh nhân của đám quyền thế hoặc đám muốn có quyền thế, chẳng có quan hệ gì với dân chúng nói chung”. Mà theo tôi, truyền thống sùng Thánh của Trung Quốc là công trình giả tạo văn hóa lớn nhất do đế vương các đời và đám văn nhân “ngự dụng” cùng tham gia chế tạo. Khổng Tử được đế vương và đại Nho các đời “phong Thánh” sớm đã viễn ly với Khổng Tử đích thực, xứng đáng được xem là món hàng nhái kém chất lượng nhất. 

Kỳ thực, nghiêm túc đọc chư tử thời Tiên Tần có thể nhận thấy, Khổng Tử người được tôn là Thánh nhân, thực ra là một nhà thuyết giáo đạo đức xoàng nhất trong các chư tử Tiên Tần. So với Trang Tử, Khổng Tử không có sự lai láng phóng túng trong ngôn ngữ, không có chất siêu dật, bay bổng, tiêu sái và chất kỳ vĩ khôi lệ trong năng lực tưởng tượng, không có trí tuệ triết học thoát tục và tài hoa văn học hiển lộ, càng không có ý thức thanh tỉnh về bi kịch của con người. So với Mạnh Tử, Khổng Tử thiếu hẳn khí phách, thái độ khoáng đạt, lòng bao dung của một vị nam tử hán, càng thiếu mất sự tự tôn khi đứng trước giới quyền lực, thiếu mất sự quan tâm lo lắng với tầng lớp bình dân “dân vi trọng, xã tắc thứ chi, quân vi khinh”. So với Hàn Phi Tử, Khổng Tử hư ngụy, xảo trá không có được sự thẳng thắn, sắc sảo và tài năng trào lộng của Hàn Phi Tử. So với Mặc Tử, Khổng Tử không có sự tự ước thúc đạo đức của chủ nghĩa dân túy xem bình đẳng là lý tưởng, không có đầu óc mang đặc trưng logic  hình thức. Tất cả những gì Khổng Tử nói đều thiếu vắng một trí tuệ lớn, chỉ có sự tinh vặt, công lợi cực đoan và khôn khéo, đã không có được linh tính thẩm mỹ và sự sâu sắc trong triết lý lại cũng không có được nhân cách cao quý và tấm lòng khoáng đạt. Ông ta, trước tiên tứ phía “chạy quan”, sau khi thất bại thì trở thành một vị giáo chủ đạo đức, cái được nhất của ông ta là “làm Thầy người” và đạo làm Thầy “dạy người không mệt mỏi” cũng vừa vặn chính là nguyên nhân tạo nên nhân cách cuồng vọng mà nông cạn. Đạo xử thế thông minh của ông ta “thịnh thế tắc nhập, loạn thế tắc ẩn” là điển hình cho chủ nghĩa cơ hội không muốn gánh trách nhiệm. Đáng buồn là, chính vị Khổng Tử khôn khéo nhất, công lợi nhất, lõi đời nhất, không có tinh thần đảm đương và gánh vác khó khăn nhất lại trở thành vị Thánh nhân và hình mẫu mấy nghìn năm của dân tộc Trung Hoa. Dân tộc nào thì có Thánh nhân nấy, và Thánh nhân như thế nào cũng sẽ chỉ có thể đắp nặn nên một dân tộc như thế ấy, “nô tính” của toàn bộ người Trung Quốc đều bắt nguồn từ chỗ đó, di truyền từ nền văn hóa đó vẫn kéo dài cho đến tận ngày nay.

Ý nghĩa đích thực trong việc đọc Luận ngữ của Lý Linh, thứ nhất là: chĩa mũi nhọn vào nơi phát động chủ nghĩa dân tộc cực đoan Trung Quốc hiện nay. Sách này tuy là một trước tác học thuật nghiêm túc muốn hoàn nguyên một “Khổng Tử đích thực”, lột bỏ lớp da “thánh hiền hư ảo” mà Nho gia các đời đã đắp lên cho Khổng Tử, nhưng rõ ràng có sự quan tâm đến hiện thực. Ông trực tiếp hoài nghi chất vấn “cơn sốt giảng đọc kinh điển”, “cơn sốt tôn Khổng”, gián tiếp hoài nghi chất vấn cái gọi là “đại quốc quật khởi”. Trong mắt Lý Linh, Khổng Tử chỉ là “chó không nhà” không tìm được nơi ký thác tinh thần trong thế giới hiện thực”, cũng chính là phê phán Nho gia đương đại biến Khổng Tử thành chúa cứu thế. Đúng như chính Lý Linh đã  nói: “Đem cờ Khổng Tử cắm khắp thế giới, tôi không hứng thú”. “Khổng Tử không thể cứu Trung Quốc cũng không thể cứu thế giới”.

Hai là, chĩa mũi nhọn vào truyền thống luôn muốn thân cận với giới quyền lực của trí thức Trung Quốc, bởi vì hiện tại Nho gia cũng đang sốt sắng làm thân với đám đương chức đương quyền. Họ độc tôn Nho học, hô hào Nho giáo, nhưng không chú trọng đến tác dụng của Nho học trong việc kiến tạo lại đạo đức con người mà chỉ chú trọng đến chức năng chính trị “tu tề trị bình” của Nho gia, mục đích muốn thực hiện “vương đạo” “chính giáo hợp nhất”[ix]. Họ đẩy Khổng Tử lên địa vị “Thầy của đế vương” hoặc “Quốc sư”, hô hào định vị Nho giáo là “quốc giáo”, hy vọng chính phủ dùng quyền lực hành chính “đặc biệt đãi ngộ” Khổng Tử, tiến tới biến thành “vua triết học” trong tay nắm quyền lực lớn theo mô thức Plato. Cho nên Khổng Tử do Tân Nho gia “trùng tu” là thụt lùi so với thời đại Hán Vũ Đế, tham vọng một lần nữa “bãi truất bách gia, độc tôn Nho thuật” là ý thức hình thức hóa Khổng Tử một cách cao độ, là làm sống lại truyền thống “nhân cách Thần” đưa người sống lên làm Thần thánh để sùng bái.

Lý Linh cho rằng, trong lịch sử Trung Quốc, những trí thức dạt dào lý tưởng Utopia chỉ nên có bổn phận là lực lượng phê phán độc lập với quyền lực, còn một khi trí thức đã nắm quyền lực sẽ là mối nguy hiểm đối với quốc gia, thậm chí là mối nguy hiểm mang tính tai họa. Lý Linh nói: “Trí thức nhạy bén sắc sảo nên càng chuyên chế hơn các đối tượng khác. Nếu như trong tay có quyền lực, thì những kẻ mất mạng trước tiên, chính là những trí thức khác”. Bởi vì trí thức Trung Quốc phần lớn đều rất cuồng vọng, tự cho mình “có trí tuệ nhất”, “có đạo đức nhất”, có lý tưởng nhất”, tự hứa rằng: “trước tiên lo cái lo của thiên hạ, rồi sau mới vui cái vui của thiên hạ”, có thể cứu vớt được bách tính trong dầu sôi lửa bỏng, tạo dựng nên một thiên đường trong chốn nhân gian. Bốn câu của Trương Tái, vị đại Nho đời Tống: “Vị thiên hạ lập tâm, vị sinh dân lập mệnh, vị vãng Thánh kế tuyệt học, vị vãng thế khai thái bình”, đến nay vẫn được phần lớn các trí thức Trung Quốc xem như châm ngôn răn mình, chứng tỏ truyền thống cuồng vọng của sĩ đại phu Trung Quốc vẫn còn rất thâm căn cố đế.

Chính vì thế, Lý Linh cảnh tỉnh trí thức đương đại Trung Quốc nên hấp thu sự giáo huấn của lịch sử, cần giữ khoảng cách với quyền lực, trừ bỏ dã tâm “làm Thầy các bậc đế vương”, vứt bỏ truyền thống dùng kinh điển cổ đại tiến hành chính trị hóa và hình thức hóa ý thức, duy trì tính độc lập về tri thức, tư tưởng và học thuật, kích thích sức sáng tạo tinh thần của trí thức. Giống như Lý Linh viết trong đoạn cuối Lời nói đầu: “Đọc Luận ngữ cần ôn hòa bình tĩnh, bỏ chính trị hóa, bỏ đạo đức hóa, bỏ tôn giáo hóa. Mục đích không gì khác ngoài việc chúng ta muốn một Khổng Tử đích thực, đặc biệt là trong thế giới lễ hoại nhạc băng này”. Nếu không, người trí thức Trung Quốc hôm nay vẫn mãi giống như trí thức Trung Quốc trong lịch sử không cách nào trút bỏ được vận mệnh cam tâm làm “chó săn” cho người khác. Chỉ khác biệt ở chỗ, khi không có ai tán thưởng thì như “chó không nhà”, nhận được sự ưu ái thì như “chó giữ nhà” trúng số.

Theo tôi, bi kịch lớn nhất của văn hóa Trung Quốc không phải là “đốt sách chôn Nho” thời Tần Thủy Hoàng mà là “bãi truất bách gia độc tôn Nho thuật” thời Hán Vũ Đế, học thuyết Nho gia trải qua sự cải tạo của Đổng Trọng Thư, miêu tả trật tự đế chế được kiến lập và duy trì dựa trên bạo lực như sự thể hiện của thiên đạo, dùng câu “thiên bất biến đạo diệc bất biến” như căn cứ bản thể luận mang tính hợp pháp của đế chế, cung cấp bằng chứng vũ trụ luận cho sự tồn tại vĩnh viễn của hoàng quyền, khoác lên hình hài lồ lộ chính trị bạo lực một tấm áo khoác nhân trị vỗ về. Các đấng đế vương đương nhiên nhận ra tác dụng dụ dỗ của tấm áo khoác này, bèn xác lập Nho giáo thành hình thái ý thức quan phương độc tôn, trở thành dòng “đạo thống” an thân lập mệnh chủ lưu cho người trí thức, cũng chính là truyền thống “làm thế nào để biến thành nô tài tốt”. Đúng như Mao Trạch Đông đã định vị người trí thức: “da đã chẳng còn, lông mọc ở đâu?”.

Trí thức đương đại Trung Quốc, trách nhiệm đầu tiên không phải là bảo vệ truyền thống sùng Thánh dựa trên sự chống lưng của quyền lực độc tài, mà là bãi bỏ địa vị “ngự dụng” (tay sai) phụ thuộc vào quyền lực, kế thừa truyền thống mới “tư tưởng tự do, nhân cách độc lập” xác lập từ thời Ngũ Tứ đến nay.

Bắc Kinh, ngày 18 tháng 8 năm 2007
Lưu Hiểu Ba.




[i] Đạo thống: chỉ dòng mạch và hệ thống truyền thừa “đạo” của Nho gia. Mặc dù Chu Tử là người đầu tiên dùng chữ “đạo thống”, nhưng người chính thức xác lập một đạo thống hoàn chỉnh lại là Hàn Dũ. Trong bài Nguyên đạo, Hàn Dũ viết: “Nghiêu đem nó [đạo] truyền cho Thuấn, Thuấn đem nó truyền cho Vũ, Vũ đem nó truyền cho Thang, Thang đem nó truyền cho Chu Công, Chu Công truyền cho Khổng Tử, Khổng Tử truyền cho Mạnh Tử. Sau khi Mạnh Tử mất, đạo ấy không được truyền nữa”.
[ii] Chỉ  sự kiện Thiên An Môn, diễn ra vào đêm ngày 3 và rạng sáng ngày mùng 4 tháng 6 năm 1989.
[iii] Tiểu khang: Là một thuật ngữ chỉ thời thịnh trị, dân no ấm an lạc của Nho gia như thời Vũ, Thang, Chu Văn Vương, Chu Vũ Vương, Chu Thành Vương…., nhưng vẫn đứng dưới xã hội Đại Đồng một bậc. “Tiểu khang” cũng là từ được Đặng Tiểu Bình dùng trong học thuyết của ông, chỉ sự phát triển kinh tế chủ nghĩa xã hội, trong thời kỳ đặc định đạt được mục tiêu đề ra.  
[iv] Nhị Thánh Nhân, Tam Thánh Nhân, Đại sư: những từ mà Nho gia các đời dùng để xưng tụng Khổng Tử
[v] Câu trích trong bài viết của Lâm Bưu đăng trên Nhân dân Nhật báo số ra ngày 24/1/1966 tụng ca Mao Trạch Đông ngữ lục.
[vii] Phẫu phù đan thư: Những tín vật làm bằng mà các hoàng đế nhà Hán ban cho công thần. Phù: làm bằng trúc trên có ghi lời thề “mãi mãi không thay đổi tước vị”. Phẫu chia thành hai: hoàng đế giữ một mảnh, công thần giữ một mảnh. Đan thư: giống một dạng khế ước viết những lời thề bằng chu sa. Vị công thần nào có được những tín vật này có thể được miễn tội. Cha của Tư Mã Thiên chỉ làm một chức quan rất nhỏ nên ông không được miễn tội, phải chịu nhục cung hình.
[viii] Phái Dương vụ: Một phe phái chính trị trong nội bộ giai cấp thống trị Trung Quốc xuất hiện sau cuộc chiến tranh Nha phiến với mục đích cứu vớt vương triều nhà Thanh, bảo vệ giai cấp địa chủ, đi theo con đường “thực nghiệp hưng quốc”. Một số tên tuổi của phái chính trị này có: Tăng Quốc Phiên, Lý Hồng Chương…..
[ix] Người đứng đầu về chính trị cũng chính là lãnh tụ tôn giáo.

5 comments:

  1. Nổi khí xung thiên hay là nộ khí xung thiên em Quách ?

    ReplyDelete
  2. Một số théc méc em Quách giải thích với :
    Trung cộng: chữ Hán (phiên âm) là gì thế? là cách gọi của LHB hay là cách gọi của dịch giả?
    khuyển Nho: bắt nguồn từ chữ nào? (loài khuyển ưng?)
    điềm lân: nghĩa là gì?
    Ông chết trong nhà mình, nhưng ông lại không có nhà: câu này buồn cười nhỉ :)

    ReplyDelete
  3. Một người có "học vấn về đạo đức" (bản dịch của PT)khác với người có "đạo đức học vấn" - xét nhận định về KT của LHB (chứ không phài LL)thì có lẽ câu của PT đúng hơn?

    ReplyDelete
  4. Em cảm ơn chị So. Nhưng chị đọc kỹ thế này thì em run quá :)) :))

    - Chính xác là "nộ khí xung thiên", nhưng nếu có thành "nổi khí xung thiên" thì cũng chẳng làm sao hết :)) :))

    - Trung cộng: phiên âm Hán Việt cũng là Trung cộng :)). Trong bài viết này em giữ nguyên cách cách dùng từ theo kiểu "xách mé" này của Lưu Hiểu Ba. Bài này Lưu Hiểu Ba viết rất thâm. Ông ấy dùng chính ngôn ngữ của Nho gia để đánh Nho gia, ông ấy dùng chính lời của Mao Trạch Đông để phê phán Mao Trach Đông. Hình như lối viết này người ta gọi là "phản ngữ" thì phải. Em cố gắng giữ nguyên sắc thái diễn đạt của các từ trong bài viết.

    - Khuyển Nho: Chữ này quen mà chị, có gì lạ đâu?

    - Điềm lân bị bắt: Nguyên văn là chữ "Ai lân", đây là sự kiện xảy ra vào năm Lỗ Ai Công thứ 14, đại khái rằng năm í mấy bác chư hầu có tổ chức một cuộc đi săn. Trong cuộc đi săn thì xe của Thúc Tôn thị mới chẹt thương một con thú lạ, cho là điềm không lành. Khổng Tử nhìn thấy mới bảo: "Con Lân đấy!", vì thế mới bác chư hầu giữ ngay con thú kia lại. Khổng Tử thấy thế mới than đại ý rằng: "Sông Hoàng Hà chả còn thấy xuất hiện Đồ hình, sông Lạc chả thấy có sách nữa, ta thế là tiêu rồi". Túm lại, đối với Khổng Tử, sự kiện lân bị bắt là một sự kiện cực kỳ buồn, nó là điềm báo trước rằng vận mệnh truyền tải văn hóa của ông đến đây là chấm dứt.

    -Ông chết trong nhà mình, nhưng ông lại không có nhà: Câu này có gì buồn cười đâu ạ? Liền mạch với ý trên, rất rõ ràng: Khát vọng của Khổng Tử không phải là tìm được một mái nhà nơi có cơm ăn nước uống, mà nhà đối với ông ấy là nơi nào có thể thi hành cái đạo của ông ấy, nơi ông ấy có thể "ký thác tinh thần". Ông ấy chẳng tìm được nơi nào dung chứa đạo của mình, tinh thần của ông ấy không tìm được nơi ký thác nên ở trong chính nhà mình mà cũng như không có nhà.

    - Câu này thì chị So đúng: cần đảo lại thành: một người có học vấn về đạo đức mới chính xác.

    ReplyDelete
  5. "Trung cộng": là chị thấy web chị Hoài dịch là TQ, em dịch là Trung cộng nên mới théc méc nguyên tác là gì thôi (nếu là của dịch giả thì oách quá ;p)
    "Ông chết trong nhà mình, nhưng ông lại không có nhà" câu này théc méc vì chị thấy PT dịch rõ nghĩa nhưng hơi dài dòng, câu của em súc tích nhưng hơi ...chất phác :D hì hì, có lẽ hay vì có chút biếm nhẽ ;p

    ReplyDelete