Saturday, April 7, 2012

ĐỐI VƯƠNG HAY HÙNG VƯƠNG?


Khi đọc những phản biện của Blogger Le Minh Khai ở đây và  ở đây về trường hợp chữ “đối” (: chữ này Le Minh Khai đọc là “đôi”, chúng tôi đọc là “đối”) trong văn bản Hán văn Đại Việt sử lược đã "bị" Trần Quốc Vượng và Nguyễn Gia Tường dịch thành “hùng” 雄 trong bản tiếng Việt mà không có sự giải thích, tôi đã tiến hành kiểm tra lại các thông tin. Tôi cho rằng đã có uẩn khúc trong trường hợp này. Có lẽ vào thời điểm khi dịch Đại Việt sử lược, cả Trần Quốc Vượng lẫn Nguyễn Gia Tường đều không có điều kiện tiếp xúc với chính văn Đại Việt sử lược khắc in trong Tứ khố toàn thư (là bản gốc) mà họ chỉ dịch dựa trên bản một bản sao chép được lưu trữ tại Việt Nam. Trong trường hợp Trần Quốc Vượng, đó có thể là bản Việt sử lược ký hiệu Vhv.1521. Bản Hán văn này được in kèm trong cuốn Việt sử lược (Trần Quốc Vượng dịch, Đinh KhắcThuân đối chiếu chỉnh lý, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2005. Bản in năm 2005 này người đối chiếu chỉnh lý cũng hoàn toàn dựa trên  bản Vhv.1521 nên cũng không có chú thích gì cho trường hợp Hùng Vương). 
Photobucket
Việt sử lược trong Tứ khố toàn thư

Photobucket
Việt sử lược ký hiệu VHv.1521 (bản sao chép?)


Qua ảnh chụp, có thể suy đoán,  Việt sử lược ký hiệu Vhv.1521 là một bản sao chép lại từ nguyên bản của Tứ khố. Tuy nhiên, giữa hai bản có một sự sai khác rất nghiêm trọng: toàn bộ những chữ “đối” 碓" (trong chữ "Đối Vương". mục Quốc sơ duyên cách) của bản trong Tứ khốđã được  sửa lại thành “hùng” trong bản ký hiệu Vhv. 1521 (chữ “hùng” có một bên là chữ hữuvà một bên là bộ chuy).(xem ảnh)


Photobucket
"Đối" trong Việt sử lược Tứ khố toàn thư

Photobucket
Thành "hùng" trong Việt sử lược ký hiệu VHv.1521





Như vậy, có thể hiểu, vô hình chung, người sao chép Hán văn (chứ không phải người dịch sang tiếng Việt) đã mặc nhiên cho rằng “đối” chính là sự chép sai từ “hùng” (một bên là chữ và một bên là bộ chuy) . Theo tôi, trong trường hợp này, ông Trần Quốc Vượng và Nguyễn Gia Tường đã không có điều kiện đối chiếu với bản gốc (và cũng có thể là vào thời điểm đó họ chưa tiếp xúc cả với những công trình hiệu đính của Trần Kinh Hòa) nên họ mặc nhiên dịch thành "hùng" (theo đúng tự dạng chép trong VHv.1521), họ không biết được có sự tồn tại của chữ “đối” 碓 trong văn bản, dẫn tới cả hai đều không có chú giải cho trường hợp này.


Photobucket
Chữ "đối" 
Photobucket
Chữ "hùng"


Quay lại chuyện “đối” và “hùng” (chữ “hùng” như trên ảnh), có thể thấy sự khác biệt của hai chữ này là  vô cùng nhỏ, đặc biệt rất dễ nhầm lẫn. Đặt giả thiết “đối”  là một chữ bị Tứ khố toàn thư khắc nhầm, tôi cho rằng trường hợp “hùng” (một bên là chữ và một bên là bộ chuy) bị nhầm sang “đối” 碓 là trường hợp có khả năng hơn là nhầm từ “lạc” sang “đối” . Nhận định đó của tôi thuần túy dựa trên mặt tự dạng. Còn những chuyện phức tạp hơn về cuộc tranh luận Lạc Vương và Hùng Vương chúng tôi sẽ trở lại trong một bài khác.

...........................

Gạch đầu dòng:

1.

Photobucket
Mục Hồng Bàng thị (Họ Hồng Bàng) trên Wikipedia Trung văn
.
Đây là mục viết về họ Hồng Bàng trên Wikipedia Trung văn , những người viết đã đặt  Đôi Vương như là một trong những hiệu của vua thời Hồng Bàng. "Quân chủ xưng hiệu là "Hùng Vương". "Lạc Vương" hoặc "Đôi Vương", từng sử dụng quốc hiệu như "Xích Quỷ quốc", "Văn Lang quốc"....vvvv. Wikipedia không phải là một tài liệu tham khảo mang tính học thuật, nhưng là nơi cung cấp thông tin dạng phổ biến, vì thế trong trường hợp này cũng cần có sự lưu ý.

2. - Một cách thức diễn giải lười biếng khác: Thời Hồng Bàng, các vị vua nối nhau lên ngôi, lần lượt xưng hiệu là: Lạc Vương, Hùng Vương (hoặc Đôi Vương)...vvv. Như thế có nghĩa là có cả Lạc lẫn Hùng, đỡ phải tranh cãi  Lạc hay Hùng mới là chính xác....

Liên kết: 
Blog Le Minh Khai:  The Evils of Quốc Ngữ #4 continued again

Thursday, March 29, 2012

Ghi chú về Ngọc


NGỌC KHUÊ


1. Theo Quản Tử  "Có thể bị đập nát nhưng không biến đổi phẩm chất đó là đức DŨNG” của Ngọc”

2. Theo lễ chế cổ Trung Hoa, trong Lễ khí có Lục khí, trong Lục khí có Ngọc Khuê (xem ảnh).
Khuê: ngọc khí được vương và chư hầu cầm trong khi TRIỀU sính , và là ngọc khí dùng để tế thần phương ĐÔNG”  (Dĩ thanh Khuê lễ Đông phương).

Chỉ là trùng hợp rất tình cờ, kinh ngạc sửng sốt, nên ghi chú lại. :)

Monday, March 12, 2012

Bi kịch


“Tử Cống hỏi Khổng Tử “Tứ tôi chán ghét việc học, muốn nghỉ ngơi để phụng sự chúa quân, có được không?”. Đức Khổng Tử trả lời: “Kinh Thi” có câu: “Sớm cung chiều kính, làm việc nghiêm túc lại cẩn thận”. Phụng sự chúa quân khó lắm, phụng sự chúa quân có thể ngơi nghỉ được chăng? ”. “Vậy Tứ tôi muốn nghỉ ngơi để hầu hạ cha mẹ”. Khổng Tử đáp: “Kinh Thi” có câu: Bậc hiếu tử thì không có chỗ tận cùng, trời mãi mãi ban thưởng cho họ”. Hầu hạ cha mẹ khó lắm, hầu hạ cha mẹ có thể ngơi nghỉ được chăng? “Vậy Tứ tôi muốn nghỉ ngơi nơi vợ con có được không?” Khổng Tử đáp: “Kinh Thi có câu: “Làm gương cho vợ, rồi đến anh em, cứ theo đó mà trị lý việc nước việc nhà”. Ở với vợ con khó lắm, ở với vợ con có thể ngơi nghỉ được chăng? “Vậy thì Tứ tôi nghỉ ngơi nơi bằng hữu, có được không?”. Khổng Tử đáp: “Kinh Thi có câu: “Bằng hữu tương trợ, tương trợ phải uy nghi”. Ở với bằng hữu khó lắm, ở với bằng hữu có thể ngơi nghỉ được chăng? “Vậy Tứ tôi muốn nghỉ ngơi để đi làm ruộng, có được không?”. Khổng Tử đáp: “Kinh Thi có câu: “Sáng ngươi cắt cỏ mao, tối ngươi lại bện thừng, vội vã sửa mái gianh, kịp vụ mùa sắp tới”. Làm ruộng khó lắm, làm ruộng có thể ngơi nghỉ được chăng?”. “Vậy Tứ tôi không lúc nào được ngơi nghỉ ư?” Khổng Tử đáp: “Hãy nhìn xem phần mộ kia, ở chốn cao như thế, được đắp nổi như thế, ngươi nhìn vào chỗ ấy thì có thể biết lúc nào có thể ngơi nghỉ vậy”. Tử Cống nói: “Ôi, lớn thay, cái chết! Quân tử nghỉ ngơi vào lúc ấy, tiểu nhân cũng nghỉ ngơi vào lúc ấy.”. (Trích dịch, thiên “Đại lược” sách Tuân Tử)

Chưa có số liệu khảo sát rõ ràng, nhưng cứ theo đoạn đối đáp trên mà suy thì đàn ông Trung Quốc thời cổ đại, với đủ mọi thể loại áp lực suốt cả cuộc đời như thế kia, có lẽ là những người thường xuyên bị stress nhất thế giới, chả thế mà họ đến tuổi 50 đã mừng rỡ xem như là “thọ”. Nói thật chứ lúc dịch xong cái đoạn đối đáp trên suýt nữa tôi cũng rống lên vì….stress (he he). 

Đoạn trích trên là một trong nhiều đoạn trích được tiến sĩ triết học trẻ người Trung Quốc tên là Khấu Bằng Trình  đưa ra như một minh chứng cho quan điểm của anh ta: nền văn hóa Trung Quốc là một nền văn hóa nặng nề trầm trọng. Nền văn hóa ấy có vẻ ngoài dị dạng (khi nhân loại còn ở giai đoạn trẻ thơ (giai đoạn thần thoại Hy Lạp) thì lúc ấy Trung Quốc đã là một ông già lọm khọm với mũ áo nghi lễ đầy mình), trên vai thì đè nặng các thể loại áp lực về lễ nghi và bổn phận giống như thần Atlas cõng bầu trời trên lưng, và trong lòng (trong tầng sâu của nền văn hóa) thì ôm một khối "bi cảm" thống thiết.  Vì thế cốt tủy của văn hóa Trung Quốc chính là “bi cảm”, vì bi quá, bi đến mức không thể bi hơn được nữa cho nên phải  “lạc cảm” để mà tồn tại. Nói như thế có nghĩa là Khấu Bằng Trình đã “cãi” lại một quan niệm tồn tại như một chân lý từ bao lâu nay ở Trung Quốc (cũng có nghĩa là anh ta “cãi” lại cả những tên tuổi lớn): nền văn hóa Trung Quốc là nền văn hóa “lạc cảm” (Lý Trạch Hậu), và rằng Trung Quốc làm gì có  bi kịch đích thực (Chu Quang Tiềm, Hồ Thích, Lỗ Tấn…..)! Phản bác tất cả những tên tuổi lớn, Khấu Bằng Trình bảo: Khồng, các bác nói thế nào ấy chứ, em đọc lại kinh điển thì thấy rằng, cái tinh thần đến chết mới được nghỉ ngơi, cái tinh thần cứ tiến  mãi không được dừng nghỉ giữa chừng là bi kịch quá đi ấy chứ. Trung Quốc đầy rẫy tinh thần bi kịch! Xuất phát điểm của nền văn hóa  Trung Quốc đã là bi kịch.

Nhân đọc bài của người ta, tôi lại nhớ đến câu hỏi: ở Việt Nam chúng ta có bi kịch đích thực hay không? Nhiều người có kiểu tư duy không thua kém "rất lạ": thế giới có giá trị đẹp đẽ gì thì chúng ta nhất định cũng phải có,  và vì thế cứ nhất quyết phải tìm ra cho có. Thử dũng cảm một lần phủ định xem nào: Ở Việt Nam làm gì có cái nền tảng nào để tạo nên bi kịch đích thực. Hết ạ.

 …………………
À chưa hết, (Lưu ý: đoạn này không dành cho những người không biết đùa): mấy bác triết học cứ thích dùng các khái niệm to tát dễ gây stress như: cái đẹp, cái bi, cao thượng, hướng thượng, rồi thì hành động bi kịch với lại số phận bi kịch. Chém gió ở chiếu đình làng thì đành thúc thủ theo lệ, nhưng ở trên blog này, tôi thích đinh nghĩa bi kịch như thế này: Bi kịch là một người gào lên “I love you”, còn người kia thì bịt tai lại sợ hãi (he he). Như thế này chẳng hạn: :))

Wednesday, February 29, 2012

Cổ sử 4: “Sự kiện không tự nói về mình”


Cho Tam Uyển Trần Quang Đức

Thử đặt một câu hỏi thế này: tại sao trong hằng hà sa số các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, có những sự kiện được ghi chép lại, có những sự kiện lại không? (Nói theo một cách khác: Tại sao trong cùng một thời điểm, cùng một câu chuyện, cùng viết về một nhân vật, có sự kiện được sử gia này chép lại, nhưng lại bị sử gia khác lờ đi?). Loại bỏ các yếu tố khách quan, loại bỏ các yếu tố theo kiểu “viết sử theo chỉ đạo từ trên” (sử Nho gia có các tiêu chí của riêng mình), có những sự kiện sử gia biết rõ mười mươi nhưng họ nhất định không chép mà chỉ chăm chắm vào sự kiện khác. Điều đó cho thấy “quyền lực”của sử gia trong việc điều khiển các sự kiện dưới ngòi bút cả mình. Sử gia mới chính là những người “quyết định sự kiện nào được phát ngôn, theo trật tự nào và vào lúc nào” (Arnold Toynbee). Trước khi đặt bút chép sử, sử gia đã có sẵn một chủ ý, một mục tiêu và sự kiện chỉ là một chuỗi các chứng cứ được sắp xếp theo tính mục đích. Nói một cách khác, sử gia là mới chính là người “đem lại ý nghĩa” cho sự kiện. “Sự kiện không tự nói về mình” (Arnold Toynbee). Vì thế, tương tự, “đọc” được gì từ các sự kiện, xét cho cùng hoàn toàn phụ thuộc vào cách thức diễn giải của người đọc. Sự kiện không bao giờ ở sẵn đấy cho chúng ta dùng. Chúng ta phải đọc nghĩa của sự kiện, cái đó, tôi gọi là “đọc sử”.

Lấy ví dụ từ một trường hợp cụ thể, sự kiện tranh cãi giữa phe Nguyễn Trãi và phe Lương Đăng về lễ nghi (bao gồm âm nhạc và ở đây tôi muốn bàn rộng thêm về chuyện triều phục) có thể diễn giải ra thành những nghĩa khác nhau tùy từng tiêu chí của người đọc, như trên blogCavenui (tôi vào đọc theo chỉ dẫn của bác thaothucsaigon và vì thế mới có bài viết này) chẳng hạn, là một “kiểu đọc”, một “kiểu đọc có chủ ý”. Khác với blog Cavenui, tôi “đọc” từ câu chuyện này một ý nghĩa khác, không thuần túy chỉ là chuyện tranh cãi nhã nhạc hay như chuyện ai Hoa hơn, ai Việt hơn (ở Việt Nam bây giờ hình như bất cứ chuyện gì dính dáng đến chuyện Hoa Việt mới được xem là hot? Một thứ mode tư duy của thời đại chăng?). Việc thiết định lễ nghi triều phục ở các triều đại “thường” (“thường” chứ không phải “luôn”) được chính sử chép tương đối tỉ mỉ vì nó là chuyện chính sự hệ trọng. Tuy nhiên, trong lịch đại vương triều Việt Nam chưa từng có việc hiệu định triều phục, nhã nhạc nào lại gây tranh cãi om xòm như dưới thời Lê Thái Tông. Bên cạnh ý nghĩa tranh chấp quyền lực quyết liệt giữa các phe phái trong triều đình (như sử gia Tạ Chí Đại Trường đã diễngiải), sự kiện giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng với tôi còn có thể được xem như là một chứng cứ cho thấy việc thiếu thốn sử sách điển tịch nghiêm trọng (điển tịch hoặc bị thiêu hủy, hoặc bị thất tán) của nước ta tại thời điểm đó. Nếu đọc lại toàn bộ diễn biến của sự kiện đó từ đầu đến cuối, chúng ta có thể thấy “cổ chế” là một câu hỏi thường xuyên được đặt ra mỗi khi động chạm đến vấn đề lễ nghi triều phục, là nỗi đau đáu của Trần Thái Tông, và cũng là nỗi đau đáu của những vị Nho thần như Nguyễn Trãi.

Thông thường, triều vua nào muốn sắp đặt lại lễ nghi triều phục thì những vị quan được giao nhiệm vụ sẽ dựa theo “tiền lệ” mà hiệu định. Tiền lệ nằm ở đâu, nằm trong sách kinh điển, trong các sách ghi chép về quy chế cổ, hoặc trong những ghi chép điển tịch của các triều trước. Theo như sử chép, từ dưới thời Lê Thái Tổ Nguyễn Trãi đã được giao cho việc chế định triều phục, nhưng đến tận thời Lê Thái Tông ông vẫn “vị cập thi hành” (chưa kịp thi hành). Đại Việt sử ký toàn thư không chép cụ thể là Lê Thái Tổ giao cho Nguyễn Trãi nhiệm vụ chế định triều phục vào năm nào nhưng có thể ngầm hiểu là từ sau khi ông được phong Quan phục hầu 冠服候 vào năm 1428. Suốt từ năm 1428 đến năm 1437, ngoài sự kiện can ngăn vua không bỏ áo tang năm 1434, Nguyễn Trãi xoay sở loay hoay mãi mà vẫn không dâng lên được một quy chế cụ thể nào về triều phục cho triều Lê, đến cuối cùng Lương Đăng chỉ dâng một tờ sớ là xong. Một người như Nguyễn Trãi mà lại không soạn nổi quy chế triều phục? Chỉ có một lí do duy nhất: Phải chăng ông trù trừ vì ông không có trong tay một điển tịch nào khả dĩ để có thể làm đầu mối, làm chỗ dựa, làm bằng cớ cho công việc hiệu định của mình. Có lẽ ông cần thời gian để truy xét lại sách vở và tìm kiếm thêm nguồn tư liệu từ phía Trung Hoa?

Sự thể rõ ràng hơn trong lời tâu của Lương Đăng sau khi bị đám các ông Nguyễn Trãi, Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến dâng tấu nghi ngờ về tri thức và tư cách chế Lễ tác Nhạc của ông ta. “ 制。今 已。 下。臣 ”. (Thần không có học thuật, không biết quy chế cổ. Nay những gì được chế định đều nằm hết trong những gì thần biết (được thấy) mà thôi. Nhược bằng chuyện thi hành hay không thi hành trông chờ cả nơi bệ hạ, thần đâu dám quyết riêng được.). “Không có học thuật” bởi vì ông ta vốn là một Thái giám chứ không phải là một Nho thần. “Không biết quy chế cổ” là bởi vì những gì ông ta biết về triều phục lễ nghi là những gì ông ta “sở kiến” khi còn làm Thái giám dưới triều tiên đế (Lê Thái Tổ), sự hiểu biết của ông ta chỉ dừng đến đó thôi, lễ nghi triều phục của đời trước thế nào thì ông ta không biết. Mà lễ nghi triều phục dưới triều Lê Thái Tổ thì vốn chỉ là đặt tạm ra để đáp ứng nhu cầu chính sự trước mắt (chính Lê Thái Tông cũng nghi ngờ về sự chính xác của quan phục, muốn đổi áo của quan tam phẩm từ hồng sang xanh cho hợp với “cổ chế” (quy chế cổ). Sau Lê Sát lấy cớ là quy định của tiên đế, Lê Thái Tông mới thôi).

Tuy nhiên Lương Đăng không phải là một Thái giám tầm thường: ông ta là người biết chữ (nếu không muốn nói là người có hiểu biết), (theo lời tâu của Bùi Cầm Hổ với Lê Thái Tông: “tiên đế dĩ tiêu thức tự dụng vi nội nhân” (tiên đế cho rằng [ông ta] là người có chữ nghĩa nên dùng làm nội nhân). Với trách nhiệm mà Lê Thái Tông giao phó, nếu ông ta muốn tìm hiểu “quy chế cổ” thì cũng không có gì là quá khó khăn nếu có điển tịch trong tay. Vấn đề là vào thời điểm đó, liệu có đủ điển tịch để ông ta tra cứu hay không?. Ngay trong lời tâu của Nguyễn Trãi khi phản bác lại Lương Đăng cũng rất mơ hồ, không trích dẫn rõ là những quy chế mà ông nêu ra khác với Lương Đăng là ghi trong sách nào, những triều nào đã thi hành. Người ta có thể nghi ngờ rằng, những quan điểm không khớp giữa ông và Lương Đăng, chính là sự khác nhau trong “sở kiến” giữa hai người. Nguyễn Trãi “sở kiến” nhiều hơn Lương Đăng vì ông là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, vì ông đã từng có giai đoạn làm quan dưới thời nhà Hồ. Nhưng “sở kiến” quan trọng nhất trong quan niệm của một Nho thần như Nguyễn Trãi phải là “điển tịch”. Không có điển tịch làm bằng, ông chỉ có thể dựa vào một lý lẽ duy nhất: Lương Đăng là một hoạn quan, ông ta không có tư cách để chế Lễ tác Nhạc.

Kết cục cuối cùng của Nguyễn Liễu chính là bằng chứng có sức nặng nhất cho thấy tại thời điểm đó, những điển tịch quan trọng  (trong đó có các bộ sử) của nước ta đã không còn. Bởi vì cho dù thế lực hoạn quan có lớn mạnh đến thế nào đi chăng nữa, thì trong cuộc tranh cãi trước mặt vua như thế, chỉ cần dâng lên một điển tịch làm chỗ dựa lý lẽ thì đám Nho thần đâu đến nỗi phải chịu nhục trước thế lực hoạn quan. Vấn đề là phe Nguyễn Trãi không có được những bằng chứng đó. Họ không có điển tịch. Nước ta sau cuộc chiến với nhà Minh hầu như đã không còn điển tịch.

Không có điển tịch nghĩa là không có rường mối. Không có rường mối thì mọi việc ắt loạn. Câu chuyện giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng không phải là khởi đầu cho một giai đoạn lịch sử đại loạn và đầy bi thảm đó sao?

......................................................................................

Cùng một xâu: Cổ sử (1),  Cổ sử (2), Cổ sử (3)

Thursday, February 23, 2012

Khi nào thì dừng lại?


Cảm hứng sáng tạo cũng giống như một hệ thống sưởi, đến một mức độ nào đó thì nó sẽ dừng hoạt động. Nhưng cảm hứng sáng tạo khác cái hệ thống sưởi ở chỗ, chỉ cần 50 euro, một mức giá đủ cho một người thợ tay ngang người Croatia có thể khiến cho hệ thống sưởi hoạt động trở lại. Vấn đề của hệ thống sưởi và cái bình nước nóng có thể được giải quyết trong hai chữ  “sửa chữa”. Nhưng vấn đề của cảm hứng sáng tạo thì sao? Khi nó dừng lại, anh không thể “sửa chữa”. Bất cứ một sự cố gắng sửa chữa nào trong cảm hứng sáng tạo cũng đồng nghĩa với sự chấm hết. Có lẽ đó là điều mà Jed Martin đã nhận thấy khi anh cố gắng sửa lại bức tranh “Damien Hirst và Jeff Koons chia nhau thị trường nghệ thuật”. Giải pháp cuối cùng: anh phá hủy nó.

Trong Bản đồ và vùng đất của Michel Houellebecq, một chân lý đơn giản được đặt ra: mọi thứ đều có thời điểm của nó. Phải bắt được đúng thời điểm, nếu để lỡ thời điểm đó, anh sẽ tuột mất tất cả. Đó là lúc anh nên dừng lại. Các nhân vật trong Bản đồ và vùng đất dường như đều tìm cho mình một thời điểm thích hợp để dừng lại. Như người mẹ của Jed Martin, bà dừng lại ngay trong giây phút bà cảm thấy hạnh phúc nhất: bà tự tử. Như Jean Pierre Martin, bố của Jed-người đã để lỡ mất thời điểm “trở thành một nghệ sĩ” khi còn trẻ- cũng đã chọn thời điểm dừng lại sau khi ông cảm thấy hết hứng thú với cuộc sống: ông chọn một nhóm trợ tịch ở Zurich để kết thúc đời mình. Jed Martin đương nhiên là một ví dụ điển hình cho sự dừng lại đúng lúc. Anh đã luôn luôn dừng lại ở những thời điểm mà anh phát hiện ra rằng mình không thể đi tiếp được nữa. Anh mải mê sáng tạo (chụp ảnh, vẽ tranh, quay video về những modul) để rồi khi cảm hứng dừng lại, anh gói ghém tất cả, tổ chức một buổi triển lãm. Sau đó chấm hết, anh chuyển sang một nguồn cảm hứng khác, mọi thứ lại bắt đầu lại từ đầu. Vấn đề về sự dừng lại còn đặt ra với cả tay nhà văn Houellebecq. Ông ta bị bế tắc. Là một tiểu thuyết gia nổi tiếng, nhưng ông ta không còn viết tiểu thuyết nữa. Ông ta tuyệt vọng với bản thân (hoặc giả lũ nhà báo và đám phê bình đã khiến ông ấy tuyệt vọng). Và rồi chính những bài thơ viết về lũ chim và con chó Platon là một khởi đầu mới đầy hào hứng đối với ông ta. Nhưng sự dừng lại của tay nhà văn này hơi thảm khốc. Ông ta không được lựa chọn. Kẻ khác đã quyết định sự dừng lại của ông ấy. Và phải chăng, cảnh sát trưởng Jasselin đã không dừng lại? Ngay sau khi ông ta phát hiện ra rằng ông ta đã bỏ lỡ một chi tiết quan trọng trong vụ án thảm sát nhà văn Houellebecq, sự nhanh nhạy đã rời bỏ ông ta, thời điểm của ông đã hết, ông quyết định về hưu cho dù ông vẫn muốn vụ án phải được điều tra đến cùng.

Cái buổi sáng sau ngày Jed Martin gặp lại Olga, đó là thời điểm dừng lại của họ. Họ đã để lỡ mất nhau. Tình yêu đó là cảm hứng nghệ thuật lớn nhất và bạn cần phải nắm bắt được thời điểm của bạn. “Cuộc sống đôi khi cho bạn một cơ may…nhưng người ta quá hèn nhát hoặc quá thiếu quả quyết nắm bắt lấy nó thì cuộc sống bèn tịch thu lại hết, có một thời điểm để làm mọi thứ và để bước vào một hạnh phúc khả dĩ, cái thời điểm ấy kéo dài vài ngày, đôi khi vài tuần, hoặc thậm chí vài tháng, nhưng nó chỉ xảy ra một lần duy nhất, và sau này chỉ đơn giản là không thể nào quay trở lại được nữa, không còn chỗ cho niềm hào hứng, sự tin tưởng và lòng tin, chỉ còn lại một sự nhẫn nhục mềm mại, một niềm thương hại lẫn nhau rất buồn, cảm giác vô ích và đúng đắn rằng, một điều gì đó đáng lẽ đã có thể xảy ra, rằng người ta chỉ không xứng đáng với món quà được tặng” (tr.274). 

Đừng cố, khi cảm hứng đã hết. Mọi cảm hứng (cảm hứng sáng tạo hay cảm hứng trong tình yêu) đều không cần đến sự cố gắng. Và mọi sự cố gắng sửa chữa chỉ làm mọi thứ hỏng hóc thêm, vì thế bạn nên dừng lại. Michel Houellebecq bảo thế.

Monday, February 6, 2012

Hang Oh và Yoo Bang


Yoo Bang (Lưu Bang) có nguồn gốc xuất thân là người Hàn Quốc? Xa hơn: Khổng Tử (Kongja) là người Hàn Quốc? Xa hơn nữa: Người Hàn Quốc là chủ nhân, là người phát minh ra hệ thống chữ tượng hình mà ngày nay được gọi là chữ Hán? Đã có đà văn tự dấn thêm bước nữa: Dân tộc Hàn cũng là người sáng tạo ra cả nền văn minh Đông Á?

Bỏ qua cụ Lưu Bang, trực tiếp tấn công luôn vào nhân vật chủ chốt nhất: Khổng Tử là người Việt? Xa hơn: Người Việt là chủ nhân, là người phát minh ra chữ Hán? Vĩ đại hơn: người Việt là người đẻ ra cả nền văn minh Đông Á?

Thật là hoang mang quá đỗi, Hàn Quốc khởi nguyên luậnViệt tộc khởi nguyên luận, lý luận giống nhau, đặt vấn đề giống nhau, vậy rốt cuộc thì Hàn tộc hay Việt tộc, bên nào mới là chủ nhân đích thực của văn hóa Trung Hoa? Bên nào cũng hùng hồn trình ra những luận điểm “chết người”, những lý lẽ “chết người”, và những chứng cứ cũng “chết người”  luôn.  Vụ này có lẽ sẽ là một trong những vụ đòi bản quyền "phát minh sáng chế" phức tạp, nan giải nhất trong lịch sử nhân loại.

Trong chuyện này, may nhất là cụ Hang Oh (Hạng Vũ), hồi sống đời cụ đúng bi kịch đích thực (hồi đầu em định dùng  là bi kịch chân chính cơ, nhưng có một bác dịch giả rất rất nổi tiếng bảo em là dùng thế không chuẩn, phải là bi kịch thực thụ, em ức quá chuyển thành bi kịch đích thực cho đồng chí dịch giả kia đỡ đắc ý), nhưng xem ra giờ đây cụ là người hạnh phúc nhất, không bị vụ “nguồn gốc xuất thân” quấy rầy phiền nhiễu, cụ có thể toàn tâm toàn ý vui vầy bên nàng Ngu Cơ xinh đẹp, mặc cho cụ Yoo Bang phải loay hoay xoay sở với tình trạng “lưỡng diện khởi nguyên ca” .

Monday, January 23, 2012

Tuân tuân như dã


Sau phút giao thừa, trong lúc ngồi chờ hương tàn, táy máy lật giở sách Luận ngữ, vô tình dừng đúng lại ở tiết đầu tiên của thiên Hương đảng. Những ai đã từng đọc thiên Hương đảng đều có thể nhận thấy, đoạn mô tả về cung cách ứng xử của Khổng Tử ngoài xã hội dường như quá thừa thãi những từ ngữ biểu tả sắc thái cung kính, thuận tòng của ông ở các mức độ khác nhau. Đó là những sự cung kính, thuận tòng được tuân thủ nghiêm ngặt quá mức khiến người ta thấy phản cảm. Học trò của Khổng Tử thực sự muốn gửi gắm điều gì qua những dòng ghi chép như thế về đức Phu Tử của họ? Đó là niềm thán phục, sự ca ngợi, hay đơn giản chỉ muốn biến Thầy mình thành một tấm gương, một chuẩn mực về cung cách ứng xử theo Lễ? Biết đâu đấy, vì truyền thống của Nho giáo là truyền thống noi gương làm mẫu. Tuy nhiên, tạm thời hãy bỏ qua những dụng ý sâu xa của đám môn sinh, chỉ suy luận từ bản thân những hành vi của Khổng Tử, thì dường như hành động tuân thủ nghiêm ngặt Lễ quá mức đó của ông là một thái độ “cố chấp”: ông cố chấp hành xử theo đúng phận vị trong một xã hội từ lâu đã không còn trật tự; ông cố chấp biến mình thành bằng chứng sống cho một nề nếp ứng xử khuôn mẫu cũ nay đã cong queo méo vẹo; ông cố chấp chứng mình sự tồn tại của một giá trị tinh thần, một giá trị xã hội nay đã không còn giá trị.

Trong “tứ vô” mà Khổng Tử dạy học trò có “vô cố”, nhưng dường như hành động của ông đôi khi đi ngược lại những lời ông dạy, hay nói cách khác, dường như ông đã rút bài học từ trải nghiệm của chính mình để dạy cho học trò một kinh nghiệm ứng xử tốt hơn. Tuy nhiên, có một kẻ hậu học cách xa thời Khổng Tử tít tắp mù khơi, trong đêm lạnh lúc giao thừa như đêm nay, vô tình đọc lại những dòng viết trên của thiên Hương đảng, chợt thấy lòng rúng động đồng cảm mà ngộ ra rằng: trong những thời điểm đặc thù người ta phải cố chấp và cần cố chấp. Cố chấp để mà giữ chí mình và để được là chính mình, cố chấp để không đánh mất mình trong một đám đông ồn ào và lộn xộn, đó là thứ cố chấp “cần”, “nên” và “phải có”.

Friday, January 20, 2012

Thời gian của Tết


Cho Nhã Thuyên 
Cho  Đôn Ki Hô Tê và Trọc Phú xứ T .

Siêu thị đồ khô măng miến mộc nhĩ nấm hương nước mắm bột nêm (khuyến mãi bát thủy tinh các cỡ). Thanh toán. Đợi. Tắc đường. Đợi. Cà phê thu lu trên ghế. Trung Quốc bi kịch tinh thần luận. Sapho. Hút bụi. Giặt đồ. Cà phê thu lu trên ghế. 文華秀麗集. Điện thoại. Tin nhắn. Trung Quốc bi kịch tinh thần luận (tiếp). Sapho (tiếp). Siêu thị (tiếp). Rượu vang Pháp 2006 hạt dẻ cười bánh bích quy hộp sắt LAMBERRTZ cà phê G7 (khuyến mãi cốc sứ cỡ to) trà Lipton (khuyến mãi cốc thủy tinh) bánh đậu xanh Hải Dương hình đĩnh vàng túi chúc mừng năm mới loại 20.000đ. Những kẻ săn máu của Le Pichon. Trước khi tắt đèn: Từ xác định đến bất định của F.David Peat.

Trời nồm chợ ướt nhớp nháp gà trống cá quả tôm he xương sườn xương ống thịt chân giò thịt ba chỉ thịt nạc vai xay bắp bò dẻ sườn bò gàu bò su hào xúp lơ cà rốt khoai tây nấm kim châm nấm hải sản chanh ớt hành lá (khuyến mại) rau húng rau xà lách. Món thịt đông. Cà phê thu lu trên ghế. Youtube. 東方神起. Email. Trung Quốc bi kịch tinh thần luận (tiếp của tiếp). Chà tủ lạnh chà sàn bếp chà tường bếp chà nhà vệ sinh. Cà phê thu lu trên ghế. Chòi sách xếp sách phân loại sách phủi bụi sách hút bụi sách một tủ hai tủ ba tủ nhét nhét nhét. Thở hồng hộc. Hút bụi. Chà sàn nhà. Thở hồng hộc (tiếp). Cà phê thu lu trên ghế. Lịch sử tôn giáo Nhật Bản.

Chuối xanh (nải lẻ quả đắt hơn nải chẵn quả) bưởi nhuộm vàng (gắn cuống bằng keo 502) ớt đỏ quất túm quả trứng gà cam canh mứt sen mứt gừng mứt bí mứt cà chua hạt đỗ quyên ô mai Hàng Đường phong bao lì xì vietcombank. Món gàu bò luộc. Cà phê thu lu trên ghế. 稼亭集. Điện thoại. Tin nhắn. Tin nhắn (tiếp tục). 稼亭集 (tiếp). Cà phê thu lu trên ghế. 田氏家集. 卷之上. Weibo. Weibo (tiếp). Weibo (tiếp của tiếp). Subculture. Glow stick. Những quả bóng màu. Cà phê (không còn thu lu trên ghế). Siêu thị (tiếp) bánh chưng giò bò dưa hành măng chua cay tôm chua cay. Youtube. 東方神起. Giặt đồ. Ebook. Ebook (tiếp)…Điện thoại. Tin nhắn. Trung Quốc bi kịch tinh thần luận (tiếp của tiếp của tiếp)…
……………………….
……………………….
……………………….
Tình trạng hiện giờ: Gà gật. Cà phê thu lu trên ghế. 

Monday, December 26, 2011

Băng tưởng (冰想)



Quán tưởng băng giá cứng chắc. Đây là một phương tiện quán để vào chính quán, nhờ phép quán này có thể tiến vào chân quán của thế giới cực lạc. Kinh quán vô lượng thọ (Đại 12, 342 thượng) nói: Thấy nước rồi, nên khởi băng tưởng. Thấy băng cứng sáng choang, thì tưởng đó là lưu ly”. (Băng tưởng (冰想)- Phật Quang đại từ điển)

Trước đây khi đọc vở kịch Tuyết tháng tám của Cao Hành Kiện, tôi đã tự hỏi: sao lại là tuyết? Câu trả lời chung tôi thường gặp trong nhiều tài liệu Phật giáo: tuyết đại diện cho sự tịnh hóa. Cũng trước đây, khi xem Xuân Hạ Thu Đông rồi lại Xuân của Kim Ki Duk, tôi cũng đã từng băn khoăn: tại sao vị sư già lại tự thiêu trên băng? Phải chăng đó chính là hàm ẩn của “băng thượng nhiên dụ hỏa”? Tại sao người đồ đệ sau khi trở lại chùa lại tạc một bức tượng băng dưới chân thác nước (lúc này cũng đã đóng băng) rồi đặt những viên xá lị của vị sư vào bên trong? Hàm ý của hành động đó là gì. Gần đây khi bác Gỗ Mun nhắc đến tác phẩm 亮出你的舌苔或空空荡荡(Thè hết lưỡi của bạn ra hoặc trống hươ trống hoác- QH tạm dịch) của Mã Kiến tôi chợt nhớ ra rằng minh đã bỏ quên một hình tượng băng khác liên quan đến Phật giáo Tây Tạng. Trong nguyên bản Hán ngữ của “Thè lưỡi…” mà tôi đã đọc, mục truyện có tên là “Quán đỉnh” thật khiến người ta phải choáng váng. Cô gái-người từ lúc sinh ra đã được xem là chuyển thế của vị Phật sống (Hoạt Phật) Tenzin Wangdui (?) (丹增。旺堆活佛)- bị đem ngâm xuống dòng sông băng ngay sau khi tiến hành xong lễ quán đỉnh (trong truyện, lễ quán đỉnh được mô tả tiến hành dưới hình thức nam nữ song thân pháp (ngầm hiểu là tư thế Yab-Yum) giữa cô gái với một vị cao tăng tổng quản trong chùa). Theo nghi thức, sau lễ quán đỉnh, cô gái phải niết bàn trong sông băng ba ngày, và sau ba ngày sẽ hiển Như Lai tạng. Tuy nhiên chỉ được hai ngày thì cô gái chết, cơ thể của cô gái đã biến thành băng trong suốt có thể nhìn thấy cả lục phủ ngũ tạng, thậm chí còn có thể thấy được một con cá đang bơi trong ruột. Cho dù rất tinh thông khẩu quyết khơi lửa nhưng cô gái đã không thể nào khiến ngọn lửa trong người mình bùng lên để hóa giải băng. Phải chăng bởi vì trong lễ quán đỉnh cô đã chịu thua trước khoái lạc, để cho khoái lạc điều khiển cả thể xác lẫn tâm trí, khiến cô không thể làm chủ được luồng nguyên khí của mình, khiến cô không đạt đến chứng ngộ, không có sự chuyển đổi nhận thức? Đọng lại duy nhất trong tâm trí cô gái sau lễ quán đỉnh chỉ là: những ý thức về sự tồn tại của Hoạt Phật Tenzin Wangdui trong con người cô bị rũ bỏ hoàn toàn. Lúc này cô ý thức được trọn vẹn, rõ ràng nhất một điều: bản thân cô là nữ, từ đầu đến cuối là một phụ nữ. Phải chăng chính nhận thức đó đã khiến cô không thể nào hoàn thành được công đoạn cuối cùng của một người chuyển thế?

Sau khi đọc lại Mã Kiến, tôi hăm hở tìm kiếm vài cuốn sách với hy vọng có câu trả lời cho câu hỏi: tại sao lại là băng? Và như thường lệ, câu trả lời rất quen thuộc: trong Phật giáo, “băng” có nghĩa là “tịnh hóa”. Bây giờ thì tôi đã hết ham muốn cố công giải đáp những băn khoăn trên đây. Có lẽ kiến thức cũng là một thứ “tùy duyên”.