Saturday, August 28, 2010

Sơ giản Chu Tử học tại Đông Á

+ Trước khi bắt đầu một bài viết riêng, tôi đã lập một bản thống kê hệ thống dạng sơ giản về tình hình “Chu Tử học” ở Đông Á. Bản khái thuật viết lúc rỗi rãi của tôi dựa trên các công trình như: Nhật Bản đích Chu Tử học của Chu Khiêm Chi, Nho giáo truyền bá nghiên cứu do Lưu Đức Tăng (chủ biên), Nho học Nam truyền sử của Hà Thành Hiên, và các tư liệu lịch sử của Nhật Bản và Triều Tiên. Lưu ý: những gì viết dưới đây chỉ mang tính chất là một ghi nhớ cá nhân.

Nếu xét trong phạm vi “Chu Tử học” là những nghiên cứu có tính hệ thống về quan điểm triết học của Chu Hy, hoặc là những nghiên cứu xiển thích tư tưởng Nho gia trên cơ sở những quan điểm triết học do Chu Hy và các học trò của ông sáng lập, rõ ràng ở Việt Nam hoàn toàn không có Chu Tử học. Tại khu vực Đông Á (không tính Trung Quốc), “Chu Tử học” phát triển thịnh đạt ở Nhật Bản và Hàn Quốc với nhiều học giả có tên tuổi và để lại những công trình có đóng góp to lớn, góp phần làm sáng tỏ thêm nhiều quan điểm tư tưởng triết học của Chu Hy.

Trong cuốn Chu Tử học Nhật Bản của Chu Khiêm Chi, chúng ta có thể thấy quá trình du nhập tư tưởng triết học của Chu Hy từ Trung Quốc vào Nhật Bản đã diễn ra từ rất sớm dưới thời Liêm Thương (Kamakura). Thời Giang Hộ (Edo) được xem là thời kỳ thịnh hành nhất của Chu Tử học Nhật Bản. Các trí thức Nhật Bản cận đại không ngừng tiếp thu vận dụng và phát huy tư tưởng triết học của Chu Hy, tạo nên một hệ thống tư tưởng có tính truyền thừa và dần dần hình thành nên các học phái Chu Tử học khác nhau qua các thời kỳ. Có thể kể một vài ví dụ tiêu biểu như: Phái Chu Tử học Kinh đô (hay Kinh sư) (Kyoto) với Đằng Nguyên Tinh Oa 藤原惺窩 (Fujiwara Seika), Lâm La Sơn 林羅山 (Hayashi Razan), Mộc Hạ Thuận Am 木下順 庵 (Kinoshita Junan), Thất Cưu Sào 室鳩巢 (Muro Kyuso), Tân Tỉnh Bạch Thạch 新井白石 (Arai Hakuseki). Phái Chu Tử học Tây Hải với: Bối Nguyên Ích Hiên 貝原益軒 (Kaibara Ekken). Phái Chu Tử học Nam Hải: có Sơn Kỳ Ám Trai 山 崎 闇斎 (Yamazaki Ansai). Phái Chu Tử học Osaka (大阪) với Trung Tỉnh Lý Hiên 中井履 軒 (Nakai Riken). Phái Chu Tử học sau cải cách Kasei có Lại Sơn Dương 赖 山 阳 (Rai Sanyo). Phái Chu Tử học Mito (水 户) với Đằng Điền U Cốc 藤田幽谷 (Fujita Yūkoku)…. Chu Tử học Nhật Bản bao gồm cả hai xu hướng: hướng thứ nhất: phát huy cái học Chu Tử và hướng thứ hai: phê phán Chu Tử học (như trường hợp Trung Tỉnh Lý Hiên, ông xuất phát từ việc giải thích lại Tứ thư để phê phán Chu Tử học). Sau chiến tranh thế giới thứ 2, Chu Tử học Nhật Bản bắt đầu tiến đến một giai đoạn mới, thành tựu chủ yếu là chú giải và phiên dịch những công trình nghiên cứu Chu tử học của các nhà Chu Tử học trước đó. Trong công trình Bình thuật lịch sử Chu Tử học Nhật Bản sau chiến tranh (1946-2006), chúng ta có thể thấy 6 giai đoạn phát triển của Chu tử học Nhật Bản thời hậu chiến. Kế thừa và phát huy những thành quả của Chu Tử học thời cận đại, những học giả Nhật Bản hậu chiến đã áp 3 hướng nghiên cứu chính : nghiên cứu triết học, nghiên cứu lịch sử tư tưởng (bao gồm cả lịch sử học thuật) và “khảo chứng học” với mục đích nhằm làm sáng tỏ thêm bối cảnh Chu Tử học trong quá khứ và hiện tại.

Tại Triều Tiên, Nho giáo đã có ảnh hưởng ngay từ thời Koryo với những học giả tiêu biểu như Choe Chung-heon (崔忠獻), Yejong (睿宗) (còn được gọi là Yejong thời Koryo để phân biệt với Yejong khác dưới thời Joseon). Tuy nhiên phải đến dưới sự cai trị của nhà Lý (Yi) thời vương triều Joseon, Nho giáo mới có vị thế cao nhất. Theo cuốn Nho giáo truyền bá nghiên cứu “dưới thời Lý (Yi) Nho giáo được tôn xưng là Nho giáo vương triều, Nho giáo có một quyền uy vô thượng. Thời Lý Thế tổ (T’oejo) quy định nghi thức lập thế tử phải mặc Nho phục vào nhà Thái học bái yết Thánh lễ, từ đó bắt đầu trở thành định chế”. “Lịch đại quân thần triều Lý, khi thảo luận chính sự đều lấy kinh nghĩa làm chuẩn tắc tối cao”. Tuy nhiên cũng dưới vương triều Joseon, qua hơn nửa thế kỷ mà đã có 4 cuộc thanh trừng trí thức Nho giáo rất đẫm máu. Đó là cuộc chiến giữa công thần quý tộc và tầng lớp tri thức Nho giáo mới nổi lên từ làng xã. Chứng kiến một trong những cuộc thanh trừng tri thức Nho giáo này (năm 1545), một trong những học giả nổi tiếng được xem là một nhà Chu Tử học tiêu biểu nhất của Triều Tiên, đó là Lý Hoảng 李滉 (Yi Hwang) (hay còn được gọi là Lý Thoái Khê 退溪 (T'oe-gye) đã tìm cách thoái ẩn về quê, viết sách và dạy học. Ông ủng hộ thuyết “Thiên Lý” và thuyết “tiên tri hậu hành” của Chu Tử. Học trò của ông đều là những người có vị thế trong triều đình. Trong cuộc chiến phe phái Đông Đảng và Tây Đảng sau này giữa các trí thức Nho giáo dưới thời trị vì của vua Sonjo, phần lớn những thành viên của Đông Đảng đều là những học trò trung thành của Yi Hwang. Dưới thời vương triều Josoen còn có một nhà Chu Tử học nổi tiếng khác là Lý Nhĩ 李 珥 (Li Yi, (hay còn gọi là Lật Cốc 粟谷 (Yul-gok). Ông là người sáng lập nên tân học phái Chu Tử học ở Triều Tiên, đó là phái “chủ Khí luận”. Ông phản đối quan điểm của Yi Hwang “Lý nhất nguyên luận” , đề xuất “Lý Khí nhị nguyên luận”. Người kế thừa quan điểm “Lý Khí nhị nguyên luận” của Lý Nhĩ là Tống Thời Liệt 宋時烈 (Song Si Yeol), tuy nhiên ông phản đối nhận thức luận phải thông qua sự vật thực tế để kiểm ngộ về Lý của Lý Nhĩ đề xuất “tiên nghiệm luận”, chủ trương con đường quan trọng nhất để “cách vật trí tri” là nằm ở “tồn tâm”. Ông có rằng “ý thức” vốn là sự thể hiện của “thiên lý”, rất thuần khiết nhưng do sự câu thúc của nhục thể mà sinh ra tư dục. Vì thế phải tu dưỡng để loại bỏ tư dục, bảo tồn “thiên tâm” và thuận theo “thiên tâm” mà hành động. Hệ thống triết học này được học trò của ông là Hàn Nguyên Chấn 韓元震(Han Won-jin) kế thừa và phát huy.

Việt Nam không có một nền “Chu Tử học” đúng nghĩa, không có nghĩa là chúng ta đứng ngoài vòng ảnh hưởng của Chu Tử học. Thời Hậu Lê và triều Nguyễn được xem là những giai đoạn chịu ảnh hưởng lớn nhất của Chu Tử học Minh Thanh. Nếu nói đến Chu tử học ở Việt Nam: có 2 nhân vật gây chú ý nhiều nhất là Hồ Quý Ly và Lê Quý Đôn. Một người “được cho là” đã “phê phán Chu Tử” (Hồ Quý Ly), và một người được cho là đã phát huy cái học “Lý Khí” của Chu Tử (Lê Quý Đôn)…

Về tư tưởng của Hồ Quý Ly, xin tham khảo bài nghiên cứu của TS Nguyễn Kim Sơn “Tư tưởng Nho giáo của Hồ Quý Ly: Đạo đức công phu hay chính trị thực hành” tại đây.

Về tư tưởng của Lê Quý Đôn và học thuyết Lý Khí của ông, xin tham khảo thêm các bài viết Luận về Lý Khí của Lê Quý Đôn kỳ 1, kỳ 2, kỳ 3 của Lâm Nguyệt Huệ và Nội hàm thông diễn học trong Vân Đài loại ngữ của Lê Quý Đôn tác giả Lâm Duy Kiệt.

Thời Hậu Lê, những bộ sách của Chu Tử được tập thành dưới thời Minh như Tứ thư ngũ kinh đại toàn, Tính lý đại toàn được sử dụng như những sách kinh điển dạng giáo khoa chính thống. Dưới triều Nguyễn, nhất là thời Tự Đức chịu ảnh hưởng rất lớn của học thuyết Chu Tử, nhất nhất đều dựa theo Chu Tử mà phát huy, như bộ Khâm Định Việt sử thông giám cương mục là một ví dụ tiêu biểu. Mặc dù không có những công trình đồ sộ chuyên sâu về tư tưởng của Chu Tử, nhưng trong các chương viết đây đó trong các bài thi hay các tập thi văn, chúng ta có thể thấy được sự phát huy tư tưởng “thiên lý” hay “lý khí” của Chu Hy trong khi bàn luận về kinh sách, chính sự…Dưới triều Nguyễn, một số tác giả bắt đầu có xu hướng phê phán Chu Tử, đánh giá lại học thuyết của Chu Tử (trong phạm vi ghi chép cá nhân) như trường hợp của Nguyễn Văn Siêu trong Phương Đình tùy bút lục là một đại diện. Đến phong trào Duy Tân, sự phê phán Chu Tử và Tống Nho đã đạt đến cao trào. Hòa giọng cùng với Lương Khải Siêu và Khang Hữu Vi, Huỳnh Thúc Kháng đã có một loạt bài đanh thép trên báo Tiếng Dân, cho rằng việc tiếp nhận Tống Nho (theo ông là cái học mạt hạng) chẳng khác gì nhận “giẻ rách canh thừa”, “cặn bã” từ Trung Quốc tuồn sang khiến cho học phong nước ta hủ bại không thể có được nhân tài. Phong trào phê phán này còn tiếp tục cho đến thời hiện tại, một số học giả nổi tiếng (không dẫn tên ở đây) vẫn kiên trì quan điểm: Tống Nho (nhất là học thuyết của Chu Tử) đã giết chết Nho giáo nguyên thủy thời Khổng Mạnh, đi ngược lại với những quan niệm triết học do Khổng Mạnh đề ra vì thế không thể được xem là đại diện của Nho giáo. (Còn nữa)

Thursday, August 19, 2010

Đờn bà thì không nên đọc sách triết học (1)

Làm thế quái nào mà người ta có thể đọc được hết 27 tập “Chu Tử toàn thư” trong một kiếp người được nhỉ? À thôi, không tính “toàn thư”, chỉ tính riêng 8 tập sách “Chu Tử ngữ loại” cũng đã đủ nhũn người. Thấp hơn một cấp nữa, muốn hiểu ngọn ngành ba tập “Chu Tử văn loại” thượng, trung, hạ cũng coi như tiêu phí cả chục năm tuổi xuân phơi phới. Đấy là chưa kể đến những công trình của các học giả khác nghiên cứu về Chu Tử, tầng tầng lớp lớp quyển quyển chất chồng mênh mang như khói biển. Chao ôi là chao ôi.

Chiều nay, khi trong đầu còn đang chồng chéo dăng đầy “lý nhất phân thù” với “cư kính”, "cùng lý" thì phải đứng dậy dắt xe đi đón con. Ra đến đường mới thấy bà con toàn khu phố đang nhất loạt thông cống. Nửa năm nay cả dãy nhà đau đầu nhức óc vì chuyện úng ngập. Mỗi lần mưa xong thì cả tháng phải lội nước bẩn, rất kinh hãi. Vì thế trời vừa sầm sì một cái là bà con đắp đập be bờ còn hơn chống bão. Dùng mắt cá chân mà nghĩ cũng có thể đưa ra kết luận: chắc chắn có tắc ở đâu đó. Giải pháp đầu tiên: huy động tiền của bà con thuê xe hút bể phốt. Xe hút cả nửa ngày, không ăn thua, ngập vẫn hoàn ngập. Giải pháp thứ hai: nước đọng thế này đã thế ông làm đường cao lên cho biết tay. Đường được tôn lên dày cả tấc, nhưng mưa xuống nước không ngập ở trên đường nữa mà xối ào ào vào nhà dân tầng 1. Mưa xong bà con cứ gọi là xắn quần tát nước uồm uồm, vừa tát vừa bịt mũi, vừa gào lên chửi thiên chửi địa. Sau bao nhiêu ngày trăn trở, chẳng biết hôm nay bác nào trong “ban lãnh đạo tổ dân phố” nghĩ ra mới thuê thợ về đồng loạt bật nắp cống lên để thông một cách rất thủ công không cần xe xiếc hút hiếc gì nữa. Nghe nói, cát ở dưới cống dày hàng tấc, một đoạn ngắn mà thợ xúc lên được chục bao tải cát+bùn đất, thảo nào nước không thoát được là phải.

Chuyện chỉ có thế, rất tầm thường và nhảm nhí chả liên quan dính dáng gì đến cụ Chu Tử. Nhưng đờn bà thì bao giờ cũng rất chi là nhiều chuyện. Hoặc giả bị nhiễm cái bệnh “anh chị hãy liên hệ với thực tiễn ở nước ta” từ ngày xửa ngày xưa hồi sinh viên mỗi khi thi môn Triết Mác nên tự dưng từ chuyện thông cống mà bỗng đốn ngộ ra một chân lý to đùng. Nếu như khơi cống ngay từ đầu thì đã không có chuyện nước úng ngập lâu như thế. Ấy là bởi vì mỗi sự vật đều có “Lý” tàng ẩn ở trong, thuận theo “Lý” mà làm thì mọi việc hanh thông, không thuận theo “Lý” thì ách tắc. Cũng như các nhà sử học thời trung đại thường nói “trị nước cũng như trị thủy”, muốn khơi dòng cũng phải nắm được “Lý” vận hành dòng nước. Khơi dòng chặn dòng lung tung sẽ tiềm ẩn những hiểm họa khôn lường. Thiên tai gần đây ở Trung Quốc là bằng chứng rõ rệt nhất. Có vẻ như hồi Trung Quốc xây đập Tam Hiệp họ chẳng thèm đếm xỉa gì đến học thuyết của Chu Tử nên mấy năm gần đây họ đang phải trả giá rất đắt vì động đất, lở đất và lũ lụt. Trị thủy mà còn khó như thế huống hồ chi là chuyện quốc gia đại sự.

+Nhân chuyện "thông cống" bàn sang chuyện khác hay hơn: chuyện Hạ Vũ trị thủy bên Trung Quốc và việc đắp đập be bờ (ý em là đắp đê) của người Việt phản ánh 2 tinh thần rõ rêt: Một bên rõ ràng là sự chủ động, trấn áp (khơi dòng chảy) còn một bên là sự thụ động chống đỡ (nước dâng lên đến đâu, núi cao lên đến đấy).




Thursday, August 5, 2010

Sách "Đại học"- vài dòng trích lục

Dai hoc tiet yeu Thanh Thai
Đại học tiết yếu bản Thành Thái
Dai hoc tap chu Tong ban
Đại học chương cú-Tống  bản
Dai hoc dai toan ban Ho Quang
Đai học đại toàn-Hồ Quảng



Dai hoc
Phép đọc sách Đại học:

Nguyên văn [tr.10a] 朱 子 曰: 語 孟 隨 事 問 答 難 見 要 領,惟 大 學 前 後 相 因 體 統 都 具 玩 味. 此 書 知 得 古 人 為 學 所 向 卻 讀 語 孟 便 易 入。讀 書 不 可 貪 多, 當 且 以 大 學 為 先。讀 大 學 豈 在 看 他 言 語 正 欲 驗 摭 於 心, 如 好 好 色 惡 惡 臭 (好 好 善 如 好 好 色,惡 惡 如 惡 惡 臭)。 試 驗 之 吾 心 果 能 如 此 乎?一 有 不至 則 勇 猛 奮 躍 不 已。必 有 長 進 不 知,如 此 則 書 自 書 我 自 我 何 益 之 有。(讀 大 學 法) (四 書 節 要)

[Chu Tử nói: Các sách như Luận ngữ, Mạnh Tử hỏi đáp tùy theo từng việc nên khó nhìn thấy được yếu lĩnh của sách. Duy có sách Đại học hệ thống trước sau nối nhau đều có ý vị ngẫm ngợi soi xét. Sách này cho biết sở hướng của cổ nhân trong việc học, lại khiến cho việc đọc sách Luận ngữ, Mạnh Tử được dễ dàng hơn. Đọc sách không nên tham nhiều, nhưng trước tiên cần phải đọc sách Đại học. Đọc Đại học há còn nhìn gì khác ngoài việc đem lời nói và ý muốn kiểm nghiệm lại ở trong lòng, xem mình có hiếu thiện như hiếu sắc, có ghét ác như ghét mùi hôi thối. Thử nghiệm ở trong lòng ta xem quả có thể như thế hay chăng? Nếu có một chỗ nào chưa đạt đến thì "dũng mãnh", "phấn dược" không ngừng. Chắc chắn có "trưởng" "tiến" mà không biết, như thế thì sách nói đằng sách, ta làm đằng ta, có ích ở chỗ nào?]



Một đoạn bàn về “nghĩa” “lợi”, “lí tài” và “dụng nhân” trong "Đại học tiết yếu" của Bùi Huy Bích

[Người nhân thì dùng của cải để mở rộng thân thế còn người bất nhân thì dùng thân thế để làm của cải sinh sôi.
Bậc nhân thì phát tán của cải để được lòng dân, còn kẻ bất nhân thì quên thân mình để vun của cải. Họ Trần nói: Vua Trụ tập trung của cải ở Lộc Đài mà lại mất nước, Chu Vũ vương phân phát của cải mà lại hưng khởi, đó chính là bằng chứng vậy.
Chưa từng có chuyện bề trên chuộng điều nhân mà bề tôi lại không ưa điều nghĩa.Chưa từng có chuyện người ưa điều nghĩa mà việc của họ lại không thành vậy. Chưa từng có chuyện của cải trong kho lại không phải là của cải vậy.
Bề trên chuộng nhân để yêu bề tôi của mình thì bề tôi lại chuộng nghĩa để trung với bề trên cho nên việc chắc chắn sẽ thành. Mà của cải trong kho cũng không lo bị xuất ra một cách trái lẽ vậy (của cải vì ta mà có).
Chu Tử nói: Nhân, nghĩa chỉ là một đạo lí. Bậc bề trên kêu gọi làm điều nhân, bề tôi ở dưới liền hô hào làm việc nghĩa.
Ngô Qu‎ý Tử nói: Của cải thì ai cũng muốn, nhưng ta tranh đoạt nó làm của riêng thì đó là sự khởi đầu của mầm hoạ vậy. Người nhân phân phát của cải để cùng chung hưởng với người, đại khái là muốn triệt tiêu lòng bất bình của họ, chớ khiến thân ta rơi vào chỗ phải tranh đoạt mà thôi. Thóc gạo ở Cự Kiều[1], Vũ Vương biết rằng nó làm nên giàu có. Ví thử không đoái đến lòng oán vọng của dân nhà Thương, hà cớ gì thà phát gạo mà không tiếc. Châu ngọc ở Quan Trung[2], Bái Công biết là khó đoạt, nếu như không nghĩ đến người nước Tần ghé mắt, cớ gì thà bỏ mà không giữ lại. Như thế của cải tuy phát tán mà dân thì lại tụ. Tụ hợp người trong thiên hạ mà quy về, kế thừa nhà Thương mà làm vua, thay nhà Tần làm hoàng đế, sự mở rộng thân thế của họ, ai có thể sánh bằng? Ngược lại, người bất nhân thì không như vậy. Lòng ham thích của cải nặng hơn yêu bản thân. Trụ vương thà chết để đổi lấy kho tàng ở Lộc Đài[3]. Đức Tông lấy cái chết để đổi lấy của cải tích trữ ở hai kho Đại Doanh, Quỳnh Lâm[4]. Những việc ấy có thể trông thấy vậy. Bậc nhân chưa từng có ý triệt thân (đem cả thân mình cho người), đức mà phân minh thì thân cũng được tôn kính là lẽ tất nhiên vậy. Chu Tử nói: người nhân không phải là bỏ của cải để mua lấy sự quy phục của mọi người, chỉ là không chiếm giữ cho riêng mình nên lòng người tự theo về mà bản thân cũng tự nhiên được tôn kính. Đó là nói về hiệu quả như thế của việc phân phát của cải]

Quách Hiền dịch


Đọc chi tiết thêm về sách Đại học và Trung dung ở đây.


+ Em cần thêm một chút thời gian, Người biết chứ :))

[1] Cự Kiều: Nơi tích trữ lương thực của nhà Thương, nay nằm ở phía đông bắc huyện Khúc Chu tỉnh Hà Bắc. Cự Kiều chi túc: Vua Trụ nhà Thương đặt nặng chế độ thu thuế lương thực để thóc gạo chất đầy ở Cự Kiều. Chu Vũ Vương diệt vua Trụ, lấy thóc ở Cự Kiều phân phát cho dân chúng.
[2] Quan Trung chi châu: Theo Sử kí, Cao Tổ bản kỉ, Bái Công sau khi tiến vào Quan Trung nghe lời can của Trương Lương và Phàn Khoái, liền cho niêm phong kho tàng, đồ châu ngọc quý báu của nhà Tần rồi trở về đóng quân ở Bá Thượng, triệu tập các vị phụ lão và thân hào ở các huyện đến nói rõ lí do đến Quan Trung là vì trừ hại cho dân chúng chứ không cốt xâm phạm, làm việc hung bạo.
[3] Lộc Đài: Tên một lầu cổ nằm ở phía Nam trấn Triều Ca, huyện Dương Âm, tỉnh Hà Nam, tương truyền là do Trụ Vương dựng, là phủ khố tích trữ của cải. Chu Vũ Vương phạt Trụ, quân của vua Trụ bị đánh bại, Vua Trụ trèo lên lầu tự thiêu mà chết.
[4] Quỳnh Lâm, Đại Doanh: Theo Tân Đường thư, Lục Chí truyện, Đường Đức Tông (Lý Thích) đặt hai kho Đại Doanh và Quỳnh Lâm ở hai bên cung Phụng Thiên, riêng để chứa cống vật

Monday, July 5, 2010

Sợ hãi


Trong tất cả những cơn ác mộng (hiểu theo đúng nghĩa đen nhất) tôi từng mơ thấy trong đời, cơn ác mộng hãi hùng nhất, đáng sợ nhất, thường xuyên nhất, lặp đi lặp lại nhiều nhất, nhiều phiên bản nhất, và cũng nực cười nhất chính là cơn ác mộng: đi thi.
Phiên bản thường xuyên nhất: Mơ thấy mình viết mãi cho đến lúc nộp bài mà vẫn chưa xong, hoặc viết mãi viết mãi mà vẫn chưa hết một trang giấy thi, hoặc tệ hơn đọc đề bài xong mà không biết mình phải làm như thế nào, trong đầu trống trơn, hoàn toàn hoảng loạn.
Một vài phiên bản khác: Đến muộn giờ thi (hoặc lạc đường không tìm thấy địa điểm thi trong tình trạng cuống cuồng vội vã); nhận bài thi trên đó ghi kết quả bị điểm kém; quên mang bút viết (thẻ báo danh vân vân và vân vân…); hài hước hơn: đang viết sắp xong bài thi lật sang trang khác thì tự nhiên roạt một cái giấy thi bị rách; bi kịch hơn: hoàn toàn quên béng ngày thi cho đến khi có người nhắc thì sợ toát mồ hôi vì ngày thi đã qua từ trước đó mất rồi; thơ mộng hơn: có lần mơ thấy chữ Hán bay như rắc thuốc lào trước mặt….
Tôi, đến hiện giờ, cụ thể là cách đây vài ngày, vẫn mơ thấy mình đang ngồi trong một phòng thi và viết điên cuồng.
Đúng là cơn ác mộng không cách nào có thể chấm dứt được.

Monday, June 28, 2010

Tạ Chí Đại Trường (1)

Với những người từng sống trong môi trường học thuật ở Sài Gòn trước năm 1975, đã từng đọc các công trình, các bài viết của Tạ Chí Đại Trường công bố tại chính thời điểm đó, nhưng lại là những người không sống trong môi trường nghiên cứu ở Việt Nam hiện tại, không hiểu hết những đặc thù riêng của nó, có lẽ sẽ khó hiểu vì sao trong một bài cảm thán trên blog này trước đây tôi lại đề nghị tổ chức một buổi “tọa đàm” (nhấn mạnh là “tọa đàm” chứ không phải là “hội thảo”) về Tạ Chí Đại Trường.

Tạ Chí Đại Trường mới được đọc công khai ở miền Bắc khoảng dăm năm trở lại đây. Thế hệ những nhà nghiên cứu ở miền Bắc trước đây đọc Tạ Chí Đại Trường như thế nào và bằng con đường nào tôi không biết, còn thế hệ chúng tôi đầu tiên là đọc những bài phê bình Tạ Chí Đại Trường trước (như bài của Nguyễn Phan Quang) rồi mãi sau này mới có cơ hội đọc chính văn của ông. Ban đầu chỉ có thể tìm đọc những đoạn viết riêng lẻ trên một số mạng như “Sex và triều đại”, rất lâu sau đó, một số bác nổi tiếng đi Mỹ cầm về Sử Việt đọc vài cuốn thì mới đọc ra đầu ra đũa. Sau đó Lịch sử nội chiến được xuất bản nhưng rồi cũng bị cấm bán ngay lập tức. Có 2 cuốn xuất bản thuận lợi là cuốn Thần người và đất Việt và cuốn mới nhất là Những bài dã sử Việt, nhưng sinh viên ngành Sử rất ít người biết đến những cuốn sách này. Tôi, nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, có hầu hết những công trình kể trên và không kể ở trên của Tạ Chí Đại Trường.

Nói cho công bằng, như vậy là so với nhiều học giả có tiếng tăm khác của Sài Gòn trước năm 1975, Tạ Chí Đại Trường may mắn hơn rất nhiều, vì sách của ông vẫn còn có thể xuất bản ở Việt Nam (thời hiện tại) và vẫn có người đọc. Như ở bài “Thư mục” trên blog này tôi đã viết, trong lịch sử nghiên cứu của Việt Nam, có một khoảng rất trắng, đó chính là tình hình học thuật ở Sài Gòn trước 1975. Chính khoảng trắng này tạo ra rất nhiều nghịch lý, có những công trình của hiện tại đang lặp lại những vấn đề mà các học giả Sài Gòn trước 1975 đã giải quyết xong xuôi chẳng hạn. Nếu như không có khoảng trống về tư liệu đã không xảy ra những chuyện tương tự. Tạ Chí Đại Trường cũng là một trường hợp như thế, các công trình của ông có thể là quen thuộc và chẳng xa lạ gì với những người thời ông, nhưng với rất nhiều sinh viên nghiên cứu ngành Sử bây giờ, Tạ Chí Đại Trường và nhiều tên tuổi sử gia khác của Sài Gòn trước 1975 là hoàn toàn lạ lẫm.

Sách báo của miền Nam Việt Nam trước 1975 trong các Thư viện ở Việt Nam đều thuộc hàng hiếm, một số báo cực hạn chế người đọc, nếu muốn đọc phải có giấy giới thiệu, chứng nhận của cơ quan là tìm hiểu vì mục đích khoa học mới được động chạm đến, đấy là chưa kể có những báo đã được xem là tuyệt diệt ở trong nước, muốn có chỉ nhờ cậy các thư viện nước ngoài, các nhà sưu tầm và các nguồn khác..vân vân…Có những học giả của Sài Gòn trước 1975 chúng tôi biết tên, có những công trình chúng tôi biết tiếng, nhưng tìm được những cuốn sách đó phải qua biết bao nhiêu đường, thậm chí phải mất rất nhiều tiền mới mua được. Nhưng có tiền nhiều khi cũng chẳng để làm gì vì không còn sách nữa.

Việc tập hợp báo chí , sách, và các công trình nghiên cứu của các học giả miền Nam Việt Nam trước 1975 mà chúng tôi (vô cùng ít người) đang làm chỉ với một mục đích nỗ lực lấp lại những khoảng trắng, để tạo tính liên tục trong lịch sử nghiên cứu Việt Nam, đánh giá một cách khách quan và công bằng, trả lại vị trí lịch sử cho những người, những công trình nghiên cứu về đúng thời điểm của nó, chẳng lẽ lại là một việc vô ích?

Những đóng góp trong các công trình của Tạ Chí Đại Trường đến đâu, tôi cho rằng chúng ta nên bình luận thẳng và trực tiếp vào tác phẩm của ông ấy (kể cả phản biện nữa- nếu có “tọa đàm” tôi cũng sẽ phản biện lại nhiều quan điểm của Tạ Chí Đại Trường) hơn là cứ nói những lời đồn đại kiểu như ông ấy không biết tiếng Tây, tiếng Tầu…vân vân và vân vân…(Chiêu này người Việt mình quen xài lắm). Tôi không quen biết Tạ Chí Đại Trường, cũng không để tâm vào những lời bình luận kiểu trên, tôi chỉ nghĩ xét cho cùng, mỗi một công trình nghiên cứu đều có sự hạn chế nhất định của thời đại, cùng với thời gian có những quan điểm hoặc phương pháp tư duy đã thành cũ kỹ và lạc hậu, đó là tất yếu, nhưng phải nhìn nhận sự tồn tại của công trình đó ở vào thời điểm ra đời, trong hoàn cảnh chung của thời ấy, nó đã có đóng góp (hoặc chẳng có một đóng góp giá trị) nhất định như thế nào, đó mới là quan trọng.

Nói mới nhớ, thực ra đã có nơi tọa đàm về các công trình của Tạ Chí Đại Trường rồi, nhưng tôi nhận được tin muộn quá không tham dự nên không nắm bắt được thông tin chung về buổi tọa đàm này.


Thursday, June 24, 2010

Trường An Tứ Hổ


Tạm thời để đường link ở đây "làm kiểng" và cũng để chứng minh với bạn nào hôm nọ gọi điện bảo viết về "Trường An tứ hổ" rằng không phải lười không muốn viết mà vì bài đã viết rồi, không muốn viết lại nữa.

Bài viết cách đây rất nhiều năm, đến năm 2007 mới thò ra.

Những vấn đề còn tồn nghi thì khi nào rảnh rang hơn một chút sẽ hạ hồi phân giải.

Monday, May 17, 2010

Thói quen

Hà Nội nóng ngột ngạt.
Lá xà cừ rụng tơi bời trong gió...
Ngồi trong quán cà phê quen thuộc, với một người bạn quen thuộc, nói một câu chuyện đầy hứng thú quen thuộc, một đề tài quen thuộc, về những cuốn sách “đồng nát” tốn tiền quen thuộc và những dự định viết lách quen thuộc.

Trong một thoáng chờ bạn ngồi check tin, chợt nhìn ra vỉa hè lá rơi như trút.

Bỗng nhiên chợt ngộ ra rằng: người ta đâu có thể dễ dàng xóa một nỗi buồn phiền quen thuộc trong lòng mình như phủi một chiếc lá vàng rơi.
Thôi, khỏi, quá, sến. Mệt.
“Căn bệnh” của những khi Hà Nội chuyển mùa. Thiệt là một thói quen khó bỏ.

Wednesday, May 5, 2010

Vô tri

Nếu như trong Sự bất tử Milan Kundera không tiếc lời bảo vệ người vợ béo í và tẻ nhạt của Goethe trước người đàn bà đầy tham vọng Bettina thì với Vô tri ông đẩy người vợ “khả kính” của Ulysse, nàng Pénélope, từ trên đỉnh chóp của nỗi niềm hoài nhớ luân lý xuống dưới chân nàng Calypso, chỉ vì ông liên tưởng đến những giọt nước mắt tình yêu đau đớn lã chã của nàng. Đúng là một sự đổ vỡ loảng xoảng của những tượng đài tình yêu trong văn học.

Bắt đầu bằng một bài giảng từ nguyên về nỗi niềm hoài nhớ, và dùng Odyssé như một sự vào đề hoàn hảo, từ cuộc trở về của Ulysse, Vô tri của Milan Kundera dẫn người ta đến với Cuộc Trở Về của những nhân vật người nhập cư gốc Séc như Irena và Josef vào thời điểm sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Châu Âu. Chế độ cộng sản đã bứt họ khỏi tổ quốc và khi chế độ này sụp đổ họ trở về để rồi nhận ra mình không còn thuộc về nơi đã ra đi. Bởi vì nơi mà họ đã ra đi cho dù đã chuyển sang một chế độ mới thì Séc từ lâu đã không còn là “tổ quốc” thân yêu mà họ từng hoài nhớ. Đó là “tổ quốc” hậu chủ nghĩa cộng sản không còn tự chủ đến cả những biển quảng cáo. Những kỉ niệm, kí ức nơi tổ quốc chỉ là những cơn chớp lóe rồi nhanh chóng lụi tàn và trống rỗng. “Cuộc trở về vĩ đại” thực ra là cuộc trở về “vô tri” mà nội hàm của nó bao gồm các phần: không biết và không muốn biết. Sự ngăn cách địa lý và thời gian khiến cho Irena và Josef không biết những gì đã xảy ra ở quê hương họ, sự không biết tạo nên nỗi niềm đau đớn của hoài nhớ. Sự giống nhau trong những cơn ác mộng chung của người nhập cư toàn Châu Âu cũng là một cơn ác mộng “vô tri”. Sự chờ đợi từ phía người trở về một câu thúc giục “kể đi”, một sự chờ đợi vô vọng trước sự từ chối “không muốn biết” của những người thân cũ ở quê hương. Họ không còn thuộc về nơi sinh ra, cũng không thuộc về nơi mà họ nhập cư, họ không còn gia đình (dù gia đình họ vẫn ở đó), không còn bạn bè (dù họ có gặp lại). Và bản thân họ trong khi cố đi tìm kí ức thì lại từ chối những kí ức khác thông qua hành động không muốn gặp lại con gái của mình với người vợ trước của Josef.

Tôi thích những cuốn tiểu thuyết của Murakami hơn, cho dù thẫm đẫm bi cảm, cho dù trong cái đẹp luôn ẩn chứa sự tàn bạo thì những tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản này vẫn khiến cho người ta cảm động với cách nhân vật tìm cách sống sót, tìm cách nỗ lực tồn tại sau mọi biến cố. Những tiểu thuyết của Milan Kundera mà tôi đã đọc lại luôn kết thúc trong một nỗi đau đột ngột đến ngây người. Giống như một nhát cắt dứt khoát không khoan nhượng. Sự kết hợp cuối cùng của Irena và Josef, hai tầm hồn khao khát muốn lấp đầy, muốn được cứu vớt bằng sự đồng cảm của đối phương cuối cùng càng đẩy họ đi đến bế tắc. Nói như thế không có nghĩa là tôi không thích Milan Kundera. Trong bất cứ một tiểu thuyết nào của nhà văn người Séc này tôi đều có thể tìm thấy cho mình những đoạn văn nhớ lâu đến dai dẳng. Với Vô tri, bài giảng từ nguyên về “sự hoài nhớ” là một đoạn văn đầy bất ngờ, nó mở rộng trường liên tưởng khi mà “hoài nhớ” là một chủ đề ưa thích của các nhà thơ cổ đại phương Đông. Khi Ulysse trở về, vuốt ve cây oliu như một minh chứng cho sự tồn tại của kí ức, cây oliu trong nỗi niềm hoài nhớ của chàng những năm tha hương, tôi chợt bật cười khi nghĩ rằng sẽ ra sao nếu cây gạo đầu làng của Cao Bá Quát bị đốn ngã. Nỗi niềm hoài nhớ sẽ ra sao nếu người ta không có một cái cây, ngọn núi hay một địa danh để làm nơi bấu víu? Sự trở về của những người tha hương sẽ ra sao nếu những gì mà họ từng hoài nhớ từ lâu đã không còn tồn tại?

+ “Vô Tri” của Milan Kundera, dịch giả Cao Việt Dũng, nhà sách Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn xuất bản. Trong một thỏa thuận “không sách, không laptop” cho kỳ nghỉ lễ dài ngày, với khổ sách nhỏ nhắn xinh xắn, số trang vừa phải, Vô tri đã giúp tôi “lách luật” một cách trót lọt khi bí mật đút gọn nó vào trong túi xách. Thật là một lựa chọn sáng suốt bởi vì mấy ngày nghỉ bên biển sau đó trời đổ mưa suốt cả ngày.

+ Nếu có gì để tôi nhớ thêm về “Vô tri” tôi sẽ nhớ đến đoạn Milan Kundera viết về Radio. Radio áp đặt người nghe, không cho phép người ta được quyền lựa chọn, nhét vào tai người ta từng mẩu nhạc cổ điển, mẩu Rock vân vân và vân vân, đó là những “âm thanh bẩn” mà người ta không thể nào từ chối được. Ở mức độ cảm nhận thông tục nhất, nếu ai đó ngồi trên một chuyến xe ô tô (suốt 7h đồng hồ liên tục), bạn sẽ hiểu sự đồng cảm mà tôi dành cho đoạn viết trên trong “Vô tri” lớn đến thế nào khi mà tai bạn bị hành hạ từ nhạc vàng sang nhạc đỏ sang nhạc trẻ, từ rên rỉ đến gào rú trong suốt cả chặng đường…..Thật là một sự tra tấn kinh hãi!



Monday, April 19, 2010

Thư mục

Đọc bài “Để tránh cho văn hóa Đông Phương một sự đổ vỡ” của Lý Nhân Sinh trên tờ “Văn Hóa Á Châu” (Sài Gòn trước 1975), đến cái đoạn tác giả đau đáu với câu hỏi, chúng ta rồi sẽ để lại gì cho hậu thế ngoài “dăm bài hát chợ phiên và vài tập truyện ngắn thuộc văn chương hạng nhẹ”, thì vẫy chân trong chăn mà cười híp mí. Có 2 lí do để cười: Thứ nhất, tác giả viết những câu ấy là vào hồi những năm 60 của thế kỉ trước, nhưng đến thế kỷ này tình hình nào có khác gì đâu? Thứ hai cười là vì câu hỏi “chúng ta sẽ để lại gì con cháu mai sau” quả là một câu hỏi có chiều dài lịch sử dằng dặc bắt đầu từ tận ngày xửa ngày xưa, xuyên qua thời đại cụ Nguyễn Trãi, làm tê tái hồn cụ Nguyễn Du rồi đu thẳng một lèo đến thời kỷ niệm “1000 năm Thăng Long Đông Đô Hà Nội” mà vẫn còn vẹn nguyên day dứt. Sự đứt gãy văn hóa khiến cho nhiều tai nạn dịch thuật diễn ra như cơm bữa, dạng như “Họa Cúc Pha” đáng nhẽ ra là “Họa thơ với cụ Cúc Pha (Nguyễn Mộng Tuân) thì lại bị dịch thành “Họa gò Cúc”…cũng không làm cho câu hỏi có niên đại lâu đời nhường ấy bị giảm khí thế đi phân nửa.
Cụ Lý Nhân Sinh có lẽ không ngờ rằng, ngày nay hoàn toàn không hề dễ dàng cho đám hậu bối muốn tìm lại những tác phẩm đã tản dật của một nền học thuật “dăm bài hát chợ phiên và vài tập truyện ngắn thuộc văn chương hạng nhẹ” mà cụ chê bai sườn sượt. Muốn là một chuyện, nhưng có tư liệu để mà khai thác hay không lại là cả một chuyện tốn tiền tốn bạc chứ không phải là chuyện giỡn chơi. Trước đây chỉ cần trích dẫn cặn kẽ Nam Phong, Tri Tân, Sử Địa hay Văn Sử địa cũng đã đủ làm “sang trọng” cho mục “lịch sử vấn đề nghiên cứu” trong một luận án Tiến sĩ văn chương ở Việt Nam, vậy thì sẽ còn “sang trọng” đến thế nào nếu ai đó có thể trích dẫn Đối Diện, Đồng Dao, Bách Khoa, Lửa Thiêng, Luận Đàm, Tư Tưởng, Sáng Tạo, Đồng Nai văn tập, Giáo dục Phổ thông, Minh Tân, Bút Việt, Đại Học, Trình Bầy, ....Chỉ riêng khía cạnh này thôi đã thấy mỉa mai không thể tả nổi.
Nói ngay như chỉ cần thống kê những đầu sách Hán Nôm đã được Trung Tâm học liệu Bộ Giáo dục hay Ủy Ban dịch thuật Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách về văn hóa phiên âm, dịch nghĩa chú giải với những tên tuổi như Nghiêm Toản, Bửu Cầm, Bùi Lương, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, Sa Minh Tạ Thúc Khải, Lê Phục Thiện, Hoàng Khôi, Nguyễn Thượng Khôi, Lê Xuân Giáo, Hoàng Văn Hòe, Nguyên Quang Tô…, đã là cả một khó khăn chồng chồng chất chất, chứ chưa nói gì đến tham vọng lấp đầy một khoảng hiện giờ còn đang bỏ trắng trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam.
Tuy nhiên, trong những cơn buồn nản đến chán chường, giữa những bế tắc đến tột cùng của việc tìm kiếm thông tin, vẫn có những giây phút hạnh phúc chói ngời khiến cho những ấm ức cơm áo gạo tiền của học thuật xứ mình bỗng chốc trở thành chuyện giời ơi đất hỡi. Nửa đêm về sáng hôm qua khi ngồi lọc những bài báo dạng scan của Sáng Tạo, Bách Khoa, Giáo dục Phổ thông bất ngờ trợn mắt trước một mẩu tin ngắn ngủi trong mục “Sinh hoạt” của tờ Bách Khoa do Ngê Bá Lí (bút danh của Nguiễn Ngu Í) viết. Tuy rất ngắn nhưng nó đã cung cấp cho tôi một thông tin mà bấy lâu nay đã đi tìm đến tuyệt vọng. Đó là thông tin về hoạt động của Tổng hội Khổng học ở Sài Gòn trước năm 1975.
Lại có cớ vẫy chân mà cười híp mí thêm một lần nữa.