Monday, July 5, 2010

Sợ hãi


Trong tất cả những cơn ác mộng (hiểu theo đúng nghĩa đen nhất) tôi từng mơ thấy trong đời, cơn ác mộng hãi hùng nhất, đáng sợ nhất, thường xuyên nhất, lặp đi lặp lại nhiều nhất, nhiều phiên bản nhất, và cũng nực cười nhất chính là cơn ác mộng: đi thi.
Phiên bản thường xuyên nhất: Mơ thấy mình viết mãi cho đến lúc nộp bài mà vẫn chưa xong, hoặc viết mãi viết mãi mà vẫn chưa hết một trang giấy thi, hoặc tệ hơn đọc đề bài xong mà không biết mình phải làm như thế nào, trong đầu trống trơn, hoàn toàn hoảng loạn.
Một vài phiên bản khác: Đến muộn giờ thi (hoặc lạc đường không tìm thấy địa điểm thi trong tình trạng cuống cuồng vội vã); nhận bài thi trên đó ghi kết quả bị điểm kém; quên mang bút viết (thẻ báo danh vân vân và vân vân…); hài hước hơn: đang viết sắp xong bài thi lật sang trang khác thì tự nhiên roạt một cái giấy thi bị rách; bi kịch hơn: hoàn toàn quên béng ngày thi cho đến khi có người nhắc thì sợ toát mồ hôi vì ngày thi đã qua từ trước đó mất rồi; thơ mộng hơn: có lần mơ thấy chữ Hán bay như rắc thuốc lào trước mặt….
Tôi, đến hiện giờ, cụ thể là cách đây vài ngày, vẫn mơ thấy mình đang ngồi trong một phòng thi và viết điên cuồng.
Đúng là cơn ác mộng không cách nào có thể chấm dứt được.

Monday, June 28, 2010

Tạ Chí Đại Trường (1)

Với những người từng sống trong môi trường học thuật ở Sài Gòn trước năm 1975, đã từng đọc các công trình, các bài viết của Tạ Chí Đại Trường công bố tại chính thời điểm đó, nhưng lại là những người không sống trong môi trường nghiên cứu ở Việt Nam hiện tại, không hiểu hết những đặc thù riêng của nó, có lẽ sẽ khó hiểu vì sao trong một bài cảm thán trên blog này trước đây tôi lại đề nghị tổ chức một buổi “tọa đàm” (nhấn mạnh là “tọa đàm” chứ không phải là “hội thảo”) về Tạ Chí Đại Trường.

Tạ Chí Đại Trường mới được đọc công khai ở miền Bắc khoảng dăm năm trở lại đây. Thế hệ những nhà nghiên cứu ở miền Bắc trước đây đọc Tạ Chí Đại Trường như thế nào và bằng con đường nào tôi không biết, còn thế hệ chúng tôi đầu tiên là đọc những bài phê bình Tạ Chí Đại Trường trước (như bài của Nguyễn Phan Quang) rồi mãi sau này mới có cơ hội đọc chính văn của ông. Ban đầu chỉ có thể tìm đọc những đoạn viết riêng lẻ trên một số mạng như “Sex và triều đại”, rất lâu sau đó, một số bác nổi tiếng đi Mỹ cầm về Sử Việt đọc vài cuốn thì mới đọc ra đầu ra đũa. Sau đó Lịch sử nội chiến được xuất bản nhưng rồi cũng bị cấm bán ngay lập tức. Có 2 cuốn xuất bản thuận lợi là cuốn Thần người và đất Việt và cuốn mới nhất là Những bài dã sử Việt, nhưng sinh viên ngành Sử rất ít người biết đến những cuốn sách này. Tôi, nhờ vào sự giúp đỡ nhiệt tình của bạn bè, có hầu hết những công trình kể trên và không kể ở trên của Tạ Chí Đại Trường.

Nói cho công bằng, như vậy là so với nhiều học giả có tiếng tăm khác của Sài Gòn trước năm 1975, Tạ Chí Đại Trường may mắn hơn rất nhiều, vì sách của ông vẫn còn có thể xuất bản ở Việt Nam (thời hiện tại) và vẫn có người đọc. Như ở bài “Thư mục” trên blog này tôi đã viết, trong lịch sử nghiên cứu của Việt Nam, có một khoảng rất trắng, đó chính là tình hình học thuật ở Sài Gòn trước 1975. Chính khoảng trắng này tạo ra rất nhiều nghịch lý, có những công trình của hiện tại đang lặp lại những vấn đề mà các học giả Sài Gòn trước 1975 đã giải quyết xong xuôi chẳng hạn. Nếu như không có khoảng trống về tư liệu đã không xảy ra những chuyện tương tự. Tạ Chí Đại Trường cũng là một trường hợp như thế, các công trình của ông có thể là quen thuộc và chẳng xa lạ gì với những người thời ông, nhưng với rất nhiều sinh viên nghiên cứu ngành Sử bây giờ, Tạ Chí Đại Trường và nhiều tên tuổi sử gia khác của Sài Gòn trước 1975 là hoàn toàn lạ lẫm.

Sách báo của miền Nam Việt Nam trước 1975 trong các Thư viện ở Việt Nam đều thuộc hàng hiếm, một số báo cực hạn chế người đọc, nếu muốn đọc phải có giấy giới thiệu, chứng nhận của cơ quan là tìm hiểu vì mục đích khoa học mới được động chạm đến, đấy là chưa kể có những báo đã được xem là tuyệt diệt ở trong nước, muốn có chỉ nhờ cậy các thư viện nước ngoài, các nhà sưu tầm và các nguồn khác..vân vân…Có những học giả của Sài Gòn trước 1975 chúng tôi biết tên, có những công trình chúng tôi biết tiếng, nhưng tìm được những cuốn sách đó phải qua biết bao nhiêu đường, thậm chí phải mất rất nhiều tiền mới mua được. Nhưng có tiền nhiều khi cũng chẳng để làm gì vì không còn sách nữa.

Việc tập hợp báo chí , sách, và các công trình nghiên cứu của các học giả miền Nam Việt Nam trước 1975 mà chúng tôi (vô cùng ít người) đang làm chỉ với một mục đích nỗ lực lấp lại những khoảng trắng, để tạo tính liên tục trong lịch sử nghiên cứu Việt Nam, đánh giá một cách khách quan và công bằng, trả lại vị trí lịch sử cho những người, những công trình nghiên cứu về đúng thời điểm của nó, chẳng lẽ lại là một việc vô ích?

Những đóng góp trong các công trình của Tạ Chí Đại Trường đến đâu, tôi cho rằng chúng ta nên bình luận thẳng và trực tiếp vào tác phẩm của ông ấy (kể cả phản biện nữa- nếu có “tọa đàm” tôi cũng sẽ phản biện lại nhiều quan điểm của Tạ Chí Đại Trường) hơn là cứ nói những lời đồn đại kiểu như ông ấy không biết tiếng Tây, tiếng Tầu…vân vân và vân vân…(Chiêu này người Việt mình quen xài lắm). Tôi không quen biết Tạ Chí Đại Trường, cũng không để tâm vào những lời bình luận kiểu trên, tôi chỉ nghĩ xét cho cùng, mỗi một công trình nghiên cứu đều có sự hạn chế nhất định của thời đại, cùng với thời gian có những quan điểm hoặc phương pháp tư duy đã thành cũ kỹ và lạc hậu, đó là tất yếu, nhưng phải nhìn nhận sự tồn tại của công trình đó ở vào thời điểm ra đời, trong hoàn cảnh chung của thời ấy, nó đã có đóng góp (hoặc chẳng có một đóng góp giá trị) nhất định như thế nào, đó mới là quan trọng.

Nói mới nhớ, thực ra đã có nơi tọa đàm về các công trình của Tạ Chí Đại Trường rồi, nhưng tôi nhận được tin muộn quá không tham dự nên không nắm bắt được thông tin chung về buổi tọa đàm này.


Thursday, June 24, 2010

Trường An Tứ Hổ


Tạm thời để đường link ở đây "làm kiểng" và cũng để chứng minh với bạn nào hôm nọ gọi điện bảo viết về "Trường An tứ hổ" rằng không phải lười không muốn viết mà vì bài đã viết rồi, không muốn viết lại nữa.

Bài viết cách đây rất nhiều năm, đến năm 2007 mới thò ra.

Những vấn đề còn tồn nghi thì khi nào rảnh rang hơn một chút sẽ hạ hồi phân giải.

Monday, May 17, 2010

Thói quen

Hà Nội nóng ngột ngạt.
Lá xà cừ rụng tơi bời trong gió...
Ngồi trong quán cà phê quen thuộc, với một người bạn quen thuộc, nói một câu chuyện đầy hứng thú quen thuộc, một đề tài quen thuộc, về những cuốn sách “đồng nát” tốn tiền quen thuộc và những dự định viết lách quen thuộc.

Trong một thoáng chờ bạn ngồi check tin, chợt nhìn ra vỉa hè lá rơi như trút.

Bỗng nhiên chợt ngộ ra rằng: người ta đâu có thể dễ dàng xóa một nỗi buồn phiền quen thuộc trong lòng mình như phủi một chiếc lá vàng rơi.
Thôi, khỏi, quá, sến. Mệt.
“Căn bệnh” của những khi Hà Nội chuyển mùa. Thiệt là một thói quen khó bỏ.

Wednesday, May 5, 2010

Vô tri

Nếu như trong Sự bất tử Milan Kundera không tiếc lời bảo vệ người vợ béo í và tẻ nhạt của Goethe trước người đàn bà đầy tham vọng Bettina thì với Vô tri ông đẩy người vợ “khả kính” của Ulysse, nàng Pénélope, từ trên đỉnh chóp của nỗi niềm hoài nhớ luân lý xuống dưới chân nàng Calypso, chỉ vì ông liên tưởng đến những giọt nước mắt tình yêu đau đớn lã chã của nàng. Đúng là một sự đổ vỡ loảng xoảng của những tượng đài tình yêu trong văn học.

Bắt đầu bằng một bài giảng từ nguyên về nỗi niềm hoài nhớ, và dùng Odyssé như một sự vào đề hoàn hảo, từ cuộc trở về của Ulysse, Vô tri của Milan Kundera dẫn người ta đến với Cuộc Trở Về của những nhân vật người nhập cư gốc Séc như Irena và Josef vào thời điểm sau khi chế độ cộng sản sụp đổ ở Châu Âu. Chế độ cộng sản đã bứt họ khỏi tổ quốc và khi chế độ này sụp đổ họ trở về để rồi nhận ra mình không còn thuộc về nơi đã ra đi. Bởi vì nơi mà họ đã ra đi cho dù đã chuyển sang một chế độ mới thì Séc từ lâu đã không còn là “tổ quốc” thân yêu mà họ từng hoài nhớ. Đó là “tổ quốc” hậu chủ nghĩa cộng sản không còn tự chủ đến cả những biển quảng cáo. Những kỉ niệm, kí ức nơi tổ quốc chỉ là những cơn chớp lóe rồi nhanh chóng lụi tàn và trống rỗng. “Cuộc trở về vĩ đại” thực ra là cuộc trở về “vô tri” mà nội hàm của nó bao gồm các phần: không biết và không muốn biết. Sự ngăn cách địa lý và thời gian khiến cho Irena và Josef không biết những gì đã xảy ra ở quê hương họ, sự không biết tạo nên nỗi niềm đau đớn của hoài nhớ. Sự giống nhau trong những cơn ác mộng chung của người nhập cư toàn Châu Âu cũng là một cơn ác mộng “vô tri”. Sự chờ đợi từ phía người trở về một câu thúc giục “kể đi”, một sự chờ đợi vô vọng trước sự từ chối “không muốn biết” của những người thân cũ ở quê hương. Họ không còn thuộc về nơi sinh ra, cũng không thuộc về nơi mà họ nhập cư, họ không còn gia đình (dù gia đình họ vẫn ở đó), không còn bạn bè (dù họ có gặp lại). Và bản thân họ trong khi cố đi tìm kí ức thì lại từ chối những kí ức khác thông qua hành động không muốn gặp lại con gái của mình với người vợ trước của Josef.

Tôi thích những cuốn tiểu thuyết của Murakami hơn, cho dù thẫm đẫm bi cảm, cho dù trong cái đẹp luôn ẩn chứa sự tàn bạo thì những tiểu thuyết của nhà văn Nhật Bản này vẫn khiến cho người ta cảm động với cách nhân vật tìm cách sống sót, tìm cách nỗ lực tồn tại sau mọi biến cố. Những tiểu thuyết của Milan Kundera mà tôi đã đọc lại luôn kết thúc trong một nỗi đau đột ngột đến ngây người. Giống như một nhát cắt dứt khoát không khoan nhượng. Sự kết hợp cuối cùng của Irena và Josef, hai tầm hồn khao khát muốn lấp đầy, muốn được cứu vớt bằng sự đồng cảm của đối phương cuối cùng càng đẩy họ đi đến bế tắc. Nói như thế không có nghĩa là tôi không thích Milan Kundera. Trong bất cứ một tiểu thuyết nào của nhà văn người Séc này tôi đều có thể tìm thấy cho mình những đoạn văn nhớ lâu đến dai dẳng. Với Vô tri, bài giảng từ nguyên về “sự hoài nhớ” là một đoạn văn đầy bất ngờ, nó mở rộng trường liên tưởng khi mà “hoài nhớ” là một chủ đề ưa thích của các nhà thơ cổ đại phương Đông. Khi Ulysse trở về, vuốt ve cây oliu như một minh chứng cho sự tồn tại của kí ức, cây oliu trong nỗi niềm hoài nhớ của chàng những năm tha hương, tôi chợt bật cười khi nghĩ rằng sẽ ra sao nếu cây gạo đầu làng của Cao Bá Quát bị đốn ngã. Nỗi niềm hoài nhớ sẽ ra sao nếu người ta không có một cái cây, ngọn núi hay một địa danh để làm nơi bấu víu? Sự trở về của những người tha hương sẽ ra sao nếu những gì mà họ từng hoài nhớ từ lâu đã không còn tồn tại?

+ “Vô Tri” của Milan Kundera, dịch giả Cao Việt Dũng, nhà sách Nhã Nam và NXB Hội Nhà Văn xuất bản. Trong một thỏa thuận “không sách, không laptop” cho kỳ nghỉ lễ dài ngày, với khổ sách nhỏ nhắn xinh xắn, số trang vừa phải, Vô tri đã giúp tôi “lách luật” một cách trót lọt khi bí mật đút gọn nó vào trong túi xách. Thật là một lựa chọn sáng suốt bởi vì mấy ngày nghỉ bên biển sau đó trời đổ mưa suốt cả ngày.

+ Nếu có gì để tôi nhớ thêm về “Vô tri” tôi sẽ nhớ đến đoạn Milan Kundera viết về Radio. Radio áp đặt người nghe, không cho phép người ta được quyền lựa chọn, nhét vào tai người ta từng mẩu nhạc cổ điển, mẩu Rock vân vân và vân vân, đó là những “âm thanh bẩn” mà người ta không thể nào từ chối được. Ở mức độ cảm nhận thông tục nhất, nếu ai đó ngồi trên một chuyến xe ô tô (suốt 7h đồng hồ liên tục), bạn sẽ hiểu sự đồng cảm mà tôi dành cho đoạn viết trên trong “Vô tri” lớn đến thế nào khi mà tai bạn bị hành hạ từ nhạc vàng sang nhạc đỏ sang nhạc trẻ, từ rên rỉ đến gào rú trong suốt cả chặng đường…..Thật là một sự tra tấn kinh hãi!



Monday, April 19, 2010

Thư mục

Đọc bài “Để tránh cho văn hóa Đông Phương một sự đổ vỡ” của Lý Nhân Sinh trên tờ “Văn Hóa Á Châu” (Sài Gòn trước 1975), đến cái đoạn tác giả đau đáu với câu hỏi, chúng ta rồi sẽ để lại gì cho hậu thế ngoài “dăm bài hát chợ phiên và vài tập truyện ngắn thuộc văn chương hạng nhẹ”, thì vẫy chân trong chăn mà cười híp mí. Có 2 lí do để cười: Thứ nhất, tác giả viết những câu ấy là vào hồi những năm 60 của thế kỉ trước, nhưng đến thế kỷ này tình hình nào có khác gì đâu? Thứ hai cười là vì câu hỏi “chúng ta sẽ để lại gì con cháu mai sau” quả là một câu hỏi có chiều dài lịch sử dằng dặc bắt đầu từ tận ngày xửa ngày xưa, xuyên qua thời đại cụ Nguyễn Trãi, làm tê tái hồn cụ Nguyễn Du rồi đu thẳng một lèo đến thời kỷ niệm “1000 năm Thăng Long Đông Đô Hà Nội” mà vẫn còn vẹn nguyên day dứt. Sự đứt gãy văn hóa khiến cho nhiều tai nạn dịch thuật diễn ra như cơm bữa, dạng như “Họa Cúc Pha” đáng nhẽ ra là “Họa thơ với cụ Cúc Pha (Nguyễn Mộng Tuân) thì lại bị dịch thành “Họa gò Cúc”…cũng không làm cho câu hỏi có niên đại lâu đời nhường ấy bị giảm khí thế đi phân nửa.
Cụ Lý Nhân Sinh có lẽ không ngờ rằng, ngày nay hoàn toàn không hề dễ dàng cho đám hậu bối muốn tìm lại những tác phẩm đã tản dật của một nền học thuật “dăm bài hát chợ phiên và vài tập truyện ngắn thuộc văn chương hạng nhẹ” mà cụ chê bai sườn sượt. Muốn là một chuyện, nhưng có tư liệu để mà khai thác hay không lại là cả một chuyện tốn tiền tốn bạc chứ không phải là chuyện giỡn chơi. Trước đây chỉ cần trích dẫn cặn kẽ Nam Phong, Tri Tân, Sử Địa hay Văn Sử địa cũng đã đủ làm “sang trọng” cho mục “lịch sử vấn đề nghiên cứu” trong một luận án Tiến sĩ văn chương ở Việt Nam, vậy thì sẽ còn “sang trọng” đến thế nào nếu ai đó có thể trích dẫn Đối Diện, Đồng Dao, Bách Khoa, Lửa Thiêng, Luận Đàm, Tư Tưởng, Sáng Tạo, Đồng Nai văn tập, Giáo dục Phổ thông, Minh Tân, Bút Việt, Đại Học, Trình Bầy, ....Chỉ riêng khía cạnh này thôi đã thấy mỉa mai không thể tả nổi.
Nói ngay như chỉ cần thống kê những đầu sách Hán Nôm đã được Trung Tâm học liệu Bộ Giáo dục hay Ủy Ban dịch thuật Phủ Quốc Vụ khanh đặc trách về văn hóa phiên âm, dịch nghĩa chú giải với những tên tuổi như Nghiêm Toản, Bửu Cầm, Bùi Lương, Tô Nam Nguyễn Đình Diệm, Sa Minh Tạ Thúc Khải, Lê Phục Thiện, Hoàng Khôi, Nguyễn Thượng Khôi, Lê Xuân Giáo, Hoàng Văn Hòe, Nguyên Quang Tô…, đã là cả một khó khăn chồng chồng chất chất, chứ chưa nói gì đến tham vọng lấp đầy một khoảng hiện giờ còn đang bỏ trắng trong lịch sử nghiên cứu văn học Việt Nam.
Tuy nhiên, trong những cơn buồn nản đến chán chường, giữa những bế tắc đến tột cùng của việc tìm kiếm thông tin, vẫn có những giây phút hạnh phúc chói ngời khiến cho những ấm ức cơm áo gạo tiền của học thuật xứ mình bỗng chốc trở thành chuyện giời ơi đất hỡi. Nửa đêm về sáng hôm qua khi ngồi lọc những bài báo dạng scan của Sáng Tạo, Bách Khoa, Giáo dục Phổ thông bất ngờ trợn mắt trước một mẩu tin ngắn ngủi trong mục “Sinh hoạt” của tờ Bách Khoa do Ngê Bá Lí (bút danh của Nguiễn Ngu Í) viết. Tuy rất ngắn nhưng nó đã cung cấp cho tôi một thông tin mà bấy lâu nay đã đi tìm đến tuyệt vọng. Đó là thông tin về hoạt động của Tổng hội Khổng học ở Sài Gòn trước năm 1975.
Lại có cớ vẫy chân mà cười híp mí thêm một lần nữa.

Monday, March 22, 2010

Lan man lúc nửa đêm






Tôi đọc những tác phẩm của Victor Hugo toàn trong những thời điểm lỡ cỡ. Những người khốn khổ thì đọc từ hồi lớp 4, nó không nằm trong vali sách của bố để trên nóc tủ có khóa phải chồng ghế, chồng thêm một ghế nữa mới tới nơi, mà là sách mẹ mượn từ một bác cùng cơ quan. Mà bác ấy thì lại lấy từ tủ sách của chồng bác ấy-một sĩ quan quân đội. Quá trình mượn sách lằng nhằng như thế nhưng cũng chẳng ăn thua. Hồi ấy bé quá nên đọc xong câu chữ nó chuội đi đằng trước đằng sau, chỉ còn lại ấn tượng về vụ bán răng, bán tóc của Fantine. Có lẽ đối với một đứa trẻ vừa thoát khỏi chuyện thay răng không lâu thì đó quả là một câu chuyện ám ảnh. Hầu như những năm tháng tuổi thơ của tôi trôi trên những trang sách của văn học cổ điển Nga, Pháp, hoặc văn học Xô Viết, vậy mà tuyệt nhiên tôi lại không vấp phải Victor Hugo thêm lần nào từ cái đận ấy. À, nói cho công bằng thì Những người khốn khổ tôi gặp lại thêm lần nữa trong giờ học tiếng Pháp năm lớp 11 (giáo trình tiếng Pháp cũ, chưa phân ban), giờ dịch, đoạn Cosette đi lấy nước ở trong rừng, rồi Jean Valjean xuất hiện. Chấm hết.


Cho đến khi đi học đại học tôi cứ nghĩ cơ bản là mình đã giải quyết xong phứt văn học cổ điển phương Tây đi rồi và xông vào đọc mấy thứ lạ lẫm hơn nhiều đến từ Châu Mỹ xa xôi thì tôi vớ được Nhà thờ Đức Bà Paris trên giá sách căn hộ mà tôi thuê. Khi tôi chuyển đến đó thì cái giá gỗ cũ kỹ thô kệch, mốc xì ấy vẫn chất chồng một đống đủ loại hầm bà lằng từ điển và một ít sách văn học, những cuốn giấy đen, rách bìa, long gáy. Nói chung, số mình đi đâu cũng va vào sách. Giá như đọc từ hồi cấp 3 thì có lẽ ấn tượng về Thằng gù nhà thờ Đức Bà Paris sẽ vô cùng sâu sắc, nhưng đọc khi đầu óc đã bị nhồi nhét kinh điển Nho gia thì mọi xúc cảm dường như bị giết chết vậy. Lại thêm một lần nữa chẳng có gì để tôi có thể thích Victor Hugo.


Vấn đề tồi tệ ở chỗ là nguyên bản thì tôi không ấn tượng nhưng tôi lại say mê những vở nhạc kịch chuyển thể từ tác phẩm của Victor Hugo. Vấn đề là trái tim tôi đau nhói khi Frollo đến thăm Esmeralda trước giờ hành quyết và gầm lên "Je t'aime". Đọc lại sách đoạn đó, dừng dưng. Nghe lại đoạn đó, đau đến mờ cả mắt. A, chết tiệt, âm nhạc luôn có con đường riêng ranh mãnh của nó để đâm thẳng vào trái tim của bọn phụ nữ vốn nhiều chuyện và rắc rối. Liên văn bản luôn có những thứ diễn dịch lạ lùng không thể giải thích nổi.


Dạo gần đây thì lại càng tệ hơn. Mỗi lần nghe Notre Dame de Paris tôi lại nhớ đến Romain Gary với một đoạn "chọc ngoáy" rất "kinh dị" trong Lời hứa lúc bình mình. Chỉ tưởng tượng ai đó lớn lên trong một căn phòng treo toàn ảnh Victor Hugo, và cứ phải mang theo cái nhìn nghiêm nghị của ông dõi theo suốt hành trình đời mình thì quả là một gánh nặng tệ hại.


Rút kinh nghiệm, nên dù hâm mộ cuồng nhiệt đến đâu, vầng hâm mộ cuồng nhiệt chứ không chỉ là hâm mộ không thôi, tôi cũng nhất quyết không treo ảnh của bất cứ thần tượng Đài Loan hay Hàn Quốc nào trong nhà, kẻo nó lại thành một nỗi ám ảnh cả đời cho Nhóc con nhà chúng tôi thì thật là phiền phức…

Friday, March 19, 2010

Vầng, thì lại "ấn" tiếp

Bác nào có ‎ý định quan tâm thêm đến những vấn đề liên quan đến "ấn" đền Trần, xin đọc tiếp các ý kiến khác nhau trên các blog này.

Blog Gốc Sậy Hiện Đại - chủ nhân blog là tiến sĩ lịch sử chuyên về đình làng Việt Nam.

Blog Giao - Dẫn blog bác này để cho thấy cách viết chữ "Cương" ở các nơi trong khu vực.

Khuất Lão Động Chủ - Dẫn blog cao nhân ẩn danh để trả lời câu hỏi "cương có cần thổ". Thực ra, khi đọc bài viết của sư huynh xong tôi cũng đã từng thắc mắc về trường hợp chữ "Cương" và "Cường" với tác giả rồi, xem nó có nằm trong các trường hợp dùng "thông" hoặc "tục thể", "dị thể" hoặc viết kỵ húy hay không. Không phải ngẫu nhiên mà trong bài viết, bác Trường Phong đã phải đưa thêm cái chữ "cương" trong hoành phi cổ, ấy là vì đề phòng trước những trường hợp các bác nào khoái tra từ điển Thiều Chửu lại thắc mắc.Câu trả lời của tôi cho câu hỏi trên blog Khuất Lão Động Chủ đó là: không thể châm chước.

Còn một hướng điều tra quan trọng khác mà chúng tôi đang đi xác minh nhưng e rằng nếu nói trước ở đây, những người trong cuộc sẽ bịt thông tin thì hết đường khai thác.


Thursday, March 11, 2010

ẤN ĐỀN TRẦN – “BAN PHÚC KHÔNG MẠNH”

Tiểu dẫn: Bài viết dưới đây là của sư huynh Trường Phong Phạm Văn Ánh (hay còn gọi là Ánh vô công, Bà triệu đi cấy) về sự thật "ấn" đền Trần. Đây là bản thảo, bản chính thức đã đăng trên báo Tiền Phong cuối tuần số 10 (từ 12-18/3/2010). Chủ nhân blog này sau khi đọc bài của sư huynh và ngắm nghía ấn đền Trần, chỉ có một điều thắc mắc duy nhất: Lẽ nào từ đời Trần các cụ đã sử dụng font chữ vi tính để khắc ấn rồi chăng?

Xem video chủ tịch nước khai ấn đền Trần (đúng là cái ấn mà sư huynh Trường Phong nhắc đến trong bài)


Những năm gần đây, lễ khai ấn Đền Trần đã trở thành một hoạt động văn hóa tâm linh đặc biệt, thu hút sự quan tâm của nhiều tầng lớp nhân dân. Vào dịp này, hàng vạn người không quản ngại đường đất xa xôi, thức thâu đêm suốt sáng, có mặt tại Đền Trần (xã Lộc Vượng, huyện Mĩ Lộc, Nam Định) để xin ấn. Nào quan, nào dân, xe lớn xe nhỏ nối đuôi thành hàng dài, cảnh ùn tắc, thậm chí là giẫm đạp lên nhau đã xuất hiện trong một số thời điểm. Những người đi xin ấn thảy đều tâm niệm rằng đây là “bảo ấn” (ấn báu), “quốc ấn vua ban”; có bản in từ ấn này sẽ được các đấng anh linh phù trợ cho thuận lợi trên quan lộ, làm ăn phát đạt, mãi hưởng phúc lành. Một vị cao niên tại Đền Trần cho biết, trong dịp khai ấn đầu năm, có tới hàng triệu bản ấn được đóng sẵn để phục vụ nhân dân thập phương, sao cho nhân dân về lễ Đền Trần, ai ai cũng có tấm ấn “vua ban”. Sự thực là vô số người đã xin được bản ấn tại Đền Trần, nhưng dường như rất ít người (thậm chí có thể là không một ai) hiểu về bản ấn mà họ đã xin được.

Vậy thực chất quả ấn được coi là linh thiêng đó ra sao? Dưới đây là ảnh chụp bản in quả ấn mà mọi người đã xin được từ Đền Trần:

(Ảnh chụp bản in quả ấn xin được ở Đền Trần. 4 chữ lớn ở chính giữa là: “Trần miếu tự điển”, 4 chữ nhỏ ở cạnh dưới là: “Tích phúc vô cường”)

Quan sát bản in quả ấn, dễ nhận thấy đây hiển nhiên chỉ là quả ấn mới làm, không phải là thứ “quốc ấn” trân quý như người ta lầm tưởng. Bỏ qua sự non nớt về nghệ thuật khắc ấn, chỉ nói về chữ khắc trên ấn đã thấy nhiều điều bất ổn. Quả ấn khắc bốn chữ lớn: “Trần miếu tự điển”, nghĩa là “điển lễ tế tự ở miếu nhà Trần”. Bốn chữ này được khắc theo lối chữ “khải”, chữ khắc nổi (trong nghệ thuật khắc ấn, kiểu khắc này gọi là “dương văn” hay “chu văn”). Riêng chữ “tự”, nửa “khải”, nửa “tiểu triện”. Người sành chữ, nhìn sơ qua có thể biết bốn chữ trên vốn lấy từ phông chữ vi tính mà ra.

Xưa, khắc ấn được coi là một bộ môn nghệ thuật. Ấn chương cổ tuyệt đại bộ phận được khắc theo lối chữ “triện” (cho nên ấn, và cả việc đóng ấn còn được gọi là “triện”). Lối chữ “triện” được đưa vào ấn chương, khiến quả ấn thêm cổ kính, đẹp về đường nét, thêm vào đó, người khắc ấn sẽ dùng kĩ thuật khắc ấn cùng cảm quan nghệ thuật của mình để tạo ấn, sao cho sản phẩm được tạo tác đảm bảo hai tiêu chí quan trọng, đó là tính thẩm mĩ và tính độc bản.

Tiền thân của ấn chương ở nước ta (theo Nguyễn Công Việt: Ấn chương Việt Nam từ thế kỉ XV đến cuối thế kỉ XIX) có thể thấy qua các con dấu có hoa văn niên đại khoảng thế kỉ XV-XVI tr.CN tìm thấy tại Hoa Lộc – Thanh Hóa năm 1974. Cũng tại Thanh Hóa, các nhà khảo cổ đã phát hiện được 6 chiếc ấn nhỏ trong một ngôi mộ cổ, được đúc khoảng cuối thời Tây Hán đến đầu thời Đông Hán (tương đương với thời An Dương Vương, từ 257-147tr.CN), được coi là “chứng tích của ấn chương xuất hiện tại Việt Nam”. Riêng ấn chương thời Trần, hiện chí ít vẫn còn quả ấn “Bình Tường Thổ châu chi ấn”, khắc năm Đại Trị thứ 5 (1362). Việc sử dụng ấn chương tại Việt Nam nếu chỉ tính đến hết thời Nguyễn, sơ bộ đã có lịch sử hơn hai nghìn năm. Tất nhiên, việc sử dụng ấn chương không thể tách rời nghệ thuật chế tác ấn. Xem thế đủ biết, về mặt ấn chương, nước ta cũng là một nước có bề dày truyền thống. Trên thế giới ấn chương được sử dụng rộng rãi, do đó đã có hẳn môn Ấn chương học (Sigillographie hoặc Sphragistique) chuyên nghiên cứu về hệ thống ấn chương qua các đời. Tại nước ta cũng có chuyên gia về ấn chương học, có công trình nghiên cứu về ấn chương đã xuất bản. Đền Trần là một ngôi đền cổ, nổi tiếng là linh thiêng thì lẽ ra quả ấn Đền Trần cũng phải đạt những tiêu chí cần có của một quả ấn bình thường. Nếu muốn tạo tác một quả ấn riêng cho Đền Trần ta có thể tham khảo quả ấn “Bình Tường Thổ châu chi ấn” nói trên, cùng nhiều mẫu ấn cổ khác, đồng thời tham khảo thêm ý kiến của các chuyên gia về ấn chương và các nghệ nhân khắc ấn. Còn như việc dùng mẫu chữ “khải” vi tính để khắc ấn của ngôi đền thiêng này (với kĩ thuật chế tác quá non kém) thì thật là một việc rất không nên.

Chưa dừng lại ở đó, cạnh dưới của quả ấn Đền Trần còn khắc thêm 4 chữ, “nghe nói” đó là bốn chữ “Tích phúc vô cương 錫 福 無 疆”. Xem vào bản in quả ấn mà nhiều người đã xin tại Đền Trần, 4 chữ này khắc chìm (trong nghệ thuật khắc ấn, kiểu khắc này gọi là “âm văn” hay “bạch văn”); khi nhìn kĩ, không rõ vì lí do gì, người ta đã khắc thiếu bộ “thổ 土” trong chữ “cương 疆”, khiến chữ “cương”, biến thành chữ “cường 彊” (nghĩa là “mạnh mẽ”). Thay vì “Tích phúc vô cương”, nghĩa là “ban phúc vô bờ”, thì giờ đây, ấn Đền Trần lại khắc bốn chữ “Tích phúc vô cường 錫 福 無 彊”, nghĩa là “Ban phúc không mạnh”.




(4 chữ phía dưới ấn Đền Trần: “Tích phúc vô cường”, nghĩa là: Ban phúc không mạnh)



(Hai chữ “Vô cương” trong hoành phi cổ)

Rốt cục quả ấn mà nhiều người cho là linh thiêng, tâm thành đến Đền Trần làm lễ xin về với bao niềm kì vọng chỉ là quả ấn “Ban phúc không mạnh” thôi sao? Bi hài thay! Đã vậy sao người ta lại sùng tín đến thế? Là vì họ không biết. Không biết nhưng họ tin, và rủ nhau cùng tin, rồi thứ tâm lí đám đông nào đó cứ cuốn họ đi. Cái niềm tin này bất chợt thấy quen quen, hình như ở nước ta, nó tồn tại khá phổ biến, không chỉ riêng đối với quả ấn Đền Trần.

Trường Phong Phạm Văn Ánh

Lời bình của chủ nhân blog: Tại sao lại ban phúc không mạnh? Có nhẽ chăng những năm gần đây có quá nhiều người đến xin ấn (nghe nói năm nay đóng ấn trước hàng triệu bản) nên các bậc minh quân lương tể nhà Trần quá mệt mỏi mới điềm triệu lên ấn mà nhắc nhở rằng: Thôi, các ngươi tự về làm lấy mà ăn, cứ đến đây xin xỏ mãi thế này, bọn ta cũng mệt mỏi lắm, mạnh mãi làm sao được!

Update

Sau khi bài này được post lên, chủ nhận blog nhận được đường link của bài báo: "Có nên thay ấn ở đền Trần". Bài báo cho biết đã tìm thấy một quả ấn "cổ" hơn cái đã nói ở trên. Vậy tại sao còn chưa thay ấn ở đền Trần? Có phải vì quả ấn "Trần Triều quốc bảo" thiếu mất dòng chữ "quan trọng" "tích phúc vô cường"?